Các tài sản thường rủi ro và không thể được định giá sử dụng những thanh toán hợp đồng tương lai như thể chúng chắc chắn. Thanh toán cổ phiếu là thặng dư vốn và cổ tức, là những thứ không có trên hợp đổng. Trái phiếu rủi ro trả số tiền hứa hẹn trong hợp đổng nếu chúng không vỡ nợ; nếu không các nhà đầu tư sẽ nhận được giá trị hổi phục của trái phiếu.

    Thanh toán của quyền chọn phụ thuộc vào giá tài sản cơ sở. Một quyền chọn cổ phiếu sẽ mang lại lợi nhuận nếu giá cổ phiếu cao hơn giá thực hiện trong khoảng thời gian tới ngày đáo hạn, nếu không, quyền chọn không mang lại lợi ích gì. Để tính toán những khoản thanh toán rủi ro, bất kể nguồn gốc rủi ro là gì, rủi ro thị trường với cổ phiếu và rủi ro tín dụng với nợ rủi ro, ta cần những nguyên tắc đánh giá khác. Chiết khấu những khoản thanh toán tương lai biến chúng thành giá trị kinh tế hôm nay. Nếu các nhà đẩu tư không quan tâm tới rủi ro, họ sẽ không phân biệt rủi ro hay không rủi ro.

lãi suất không trái tức


 Ví dụ điển hình về ‘mức ngại rủi ro’ là một khoản thanh toán bất trắc có giá trị 50 hoặc 150 với xác suất như nhau. Thanh toán kỳ vọng là 100. Nếu trung lập về rủi ro, các nhà đầu tư sẽ không quan tâm một khoản thanh toán chắc chắn là 100 và một khoản thanh toán ngẫu nhiên kỳ vọng 100 (trung bình của hai khoản tiền có thề). Trong thực tế, các nhà đầu tư không thích rủi ro và sẽ muôn khoản tiền chắc chắn 100. Sự khác biệt giá trị giữa khoản tiền kỳ vọng với xác suất và khoản tiền chắc chắn là mức ngại rủi ro. Giả sử “tương đương chắc chắn” của khoản tiền ngẫu nhiên là 90, nó là giá trị của kết quả ngẫu nhiên cho các nhà đẩu tư. Giá trị của mức ngại rủi ro là sự khác biệt giữa 100 và 90 là 10.
     Chương tiếp theo sẽ nói tới những nguyên tắc định giá những khoản tiền rủi ro, với giả định mức ngại rủi ro và lệ phí rủi ro so với lãi suất không rủi ro là ẩn số.