Với người cho vay, khoản vay là một tài sản với giá trị thấp hơn giá trị của một khoản nợ 1000 với lãi suất 10%, sự chênh lệch là giá trị của quyền chọn trả trước. Với người đi vay, khoản vay là một khoản nợ giá trị thấp hơn khoản nợ 1000 ở lãi suất 10%.

      Trong cả hai trường hợp, chênh lệch giá trị này là 4,61.
Chi phí là 0,461% của tiền nợ gốc theo giá trị hiện tại. Sự sụt giảm giá trị khoản nợ một lượng bằng giá trị quyền chọn nên xuất hiện trọn mục “giá trị công bằng” trong bảng cân đối kế toán. Nó biểu thị giá trị kinh tế của khoản nợ, thấp hơn giá trị sổ sách vì ngân hàng đã cho đi quyền chọn. Giá trị công bằng là một con số có ý nghĩa hơn giá trị sổ sách vì nó làm cho những thua lỗ do trả trước hiện rõ tức thì thay vì tích lũy thua lỗ khi người đi vay tái thỏa thuận khoản nợ.

khoản vay



      Định giá rủi ro trả trước đởi hởi một markup trên giá khoản nợ thông thương. Markup định kỳ là một biên bổ sung bằng giá trị quyền chọn. Chênh lệch cẩn thiết để làm cho giá trị khoản nợ không thỏa thuận lại bằng giá trị khoản nợ có quyền chọn là chênh lệch điều chinh theo quyền chọn (OAS). Để tìm ra OAS, ta cần tìm một độ trôi ứng với tất cả các lãi suất để làm giá trị khoản nợ có quyền chọn trở thành 1000. Đế tăng giá trị khoản nợ, ta cần cộng một độ trôi âm, làm giảm các tỷ lệ chiết khấu.

      Độ trôi đó là -0,29%. Độ trôi băng với thua lỗ cho ngươi cho vay do quyền chọn. Để đền bù khoán thua lỗ đó, người cho vay nên định giá khoản vay ở lãi suất cao hơn bù cho thua lỗ phần trăm này. Độ trí 0 29% là chênh lệch OAS nên được cộng vào lãi suất khoản vay để định giá quyền chọn cho người đi vay (bảng 25.14)

      Chênh lệch giữa khoản nợ có và không có quyền chọn được làm trên. Phương pháp để tính OAS giống như phương pháp định chuẩn. Tuy nhiên, mục đích khác nhau. Định chuẩn dùng để liên hệ mô hìrih với thị trường. OAS dùng để xác định chi phí của quyền chọn ẩn trong khoản vay và markup cần thiết để định gié nó cho người đi vay.