Từ lãi suất khách hàng trung bình và giá chuyến khoản được định ra bởi ALM (giả định biểu đổ lợi nhuận phẳng), ta tính NII của mỗi đơn vị thương mại mua hoặc bán với AL1V (bảng 28.2). Đơn vị ALM mua và bán các khoản vốn nội bộ và cấp vốn từ bên ngoài cho những thâm hụt của ngân hàng.

      Với một giá nội bộ duy nhất 9,20%, biên thương mại theo phần trăm là 12% – 9,20% = : 2,80% với các khoản vay và 6% – 9,20% = -3,20% với tiền ký gửi. Chú ý quy ước dấu của thu nhận tiền: dấu trừ nghĩa là ngân hàng trả cho khách hàng gửi tiền ít hem ALM trả. Nhưng 3,20% là một chênh lệch dương từ đơn vị thu nhận tiền ký gửi.

lãi suất khách hàng



     Tổng NII thương mại là 94,4, thấp hơn NII kế toán của ngân hàng. Tổng NII thương mại bao gồm các đóng góp từ hoạt động cho vay và thu nhận tiền ký gửi. Hoạt động cho vay tạo ra biên 56 và việc thu tiền tạo ra 38,4. Hệ thống phân phôi NII cho các đơn Vị kinh doanh khác nhau. ALM có doanh thu và chi phí đối xứng cộng với chi phí câp vốn cho I khoán thâm hụt 800 từ thị trường. Cộng NII kinh doanh và NII của ALM, ta có NII của ị ngân hàng. NII cửa ALM là số dương vì ALM đánh phí các đơn vị kinh doanh quá cao I với giá chuyển khoản 9,20%, cao hon lãi suất thị trường (9%).

        Nếu NII của ALM bằng không, biên của toàn ngân hàng bằng với NII thương mại. Đây là trường hợp tham chiếu. ALM trung lập và không tạo ra thua lỗ hay lợi nhuận. Khi đó toàn bộ NII của ngân hàng nằm trong các đơn vị thương mại như trong bảng 28.3. Chú ý ta giữ lãi suất khách hàng cố định, để chênh lệch giữa lãi suất khách hàng và giá chuyển khoản thay đối, 9% – 8% = 1% với cho vay và 8%-3% = 5% với thu nhận tiền ký gửi. Rõ ràng, vì lãi suất khách hàng cố định giống như chi phí vốn thị trường, NII của ngân hàng vẫn là 96 (bảng 28.3). Tuy nhiên, sự phân phối NII tổng này giữa các đơn vị kinh doanh và ALM đã thay đổi.

Các ví dụ trên cho thấy:
• Giá chuyển khoản phân bố NII của ngân hàng giữa các đơn vị kinh doanh và ALM
• NII tổng luôn bằng biên lãi thương mại và biên lãi ALM