EV và giá trị thị trường của cổ phần không hoàn toàn giống nhau. EV có thể là số âm trong khi giá trị cổ phần luôn là số dương. Hơn nữa, cổ phần không phải là một khoản nợ thu nhập cố định. Vì những nhà đầu tư cổ phần chịu mọi rủi ro của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập yêu cầu nên cao hơn chi phí khoản nợ.

      Do đó, sẽ không họp lý nêu coi nhà đầu tư cố phần là một “người cho vay thuần túy”, người sẽ giữ các khoản vay của ngân hàng và bán khoản nợ ngân hàng. Giá trị thị trường của cổ phần là giá trị chiết khâu của các dòng tiền bù cho cổ phần, với lãi suất điều chinh theo rủi ro bằng với thu nhập cổ phần yêu cầu khi rủi ro cổ phần được tính bằng |3 của cổ phiếu ngân hàng. EV là một hiệu và có thể là số âm trong khi giá cổ phiếu không thể là số âm.

       Cần xem xét nhiều tỷ lệ chiết khâu. Giá trị công bằng nên sử dụng lãi suất thị trường điều chỉnh theo rủi ro bao gồm chênh lệch tín dụng ứng với điểm tín dụng của người đi vay. Chi phí cấp vốn của ngân hàng cũng hợp lý vì bất kỳ chênh lệch nào của tài sản vượt trên chi phí cấp vốn này sẽ thành một chênh lệch vượt mức. Chi phí cấp vốn của ngân hàng là bình quân gia quyền của tất cả các nguồn vốn, cổ phần và nợ hay chi phí vốn bình quân gia quyền (Wacc) của ngân hàng.

giá trị kinh tế



       Chúng tôi sẽ trình bày lãi suất không rủi ro và dòng tiền chiết khấu (DCF) làm rõ những đặc tính nổi bật của EV như thế nào.EV là một biến mục tiêu của ALM vì nó đo lường giá trị hiện tại của tất cả các thu nhập lãi thực trong tất cả các khoảng thời gian tương lai. Khi tập trung vào khoảng thời gian ngăn hạn, ví dụ 2 năm, mục tiêu tự nhiên của ALM là NII và mô hình khe hở vẫn thích hợp, trừ với quyền chọn. Nhưng khi tập trung vào dài hạn, EV thích hợp hơn và cần phải có những thước đo rủi ro cho biên mục tiêu mới này.

     Trong phần này, ta sẽ khảo sát những cách nhìn khác nhau về EV. Giá trị hiện tại của các dòng tiền tương lai F, là:
      Lãi suất thị trường là lãi suất không trái tức không rủi ro rt rút ra từ biểu đồ lợi nhuận. Công thức sẽ tính ra giá trị của bất kỳ tài sản nào tạo ra dòng tiền hợp đổng. EV là giá trị thực của một danh mục đầu tư giữ tài sản và bán nợ. Nó có thể là số âm hoặc dương. Sự thay đổi của EV phụ thuộc hoàn toàn vào độ nhạy của hai danh mục đầu tư này. Chương tiếp theo sẽ thảo luận phản ứng của EV khi lãi suất thị trường thay đổi.