Giá trị thị trường của khoản vay ban đầu thay đổi với lãi suất và là cơ sở của quyền chọn trả trước. Đây là giá trị hiện tại của tất cả các khoản tiền trả hằng năm về sau. Lãi suất ở mỗi đốt dùng để tính đường thời gian của giá trị khoản nợ trong phần trên.

       Lợi ích từ việc tái thỏa thuận là hiệu giữa giá trị hiện tại của khoản nợ và giá thực hiện hiện tại. Giá thực hiện là khoản nợ cởn lại cộng với phí phạt. Giá thực hiện của khoản nợ được tính từ thời gian biểu trả nợ và cộng tiền phạt 3% của số dư (bảng 25.11)

       Khi ta đã có tất cả các giá trị của khoản vay và giá thực hiện, lợi nhuận tức thì của quyền chọn là chênh lệch dương giữa giá trị khoản vay và giá thực hiện, không tính tới những cơ hội thực hiện khác. Để phép tính nhất quán, giá trị của khoản nợ nên bằng giá trị tịnh của trả tiền gốc, mặc dù ở trên nó được tính ả trước việc trả nợ đó. Lợi nhuận tức thì vào bất kỳ ngày nào bằng giá trị thị trường của khoản nọ trừ đi tiền gốc dư nhân với (1+3)% (bảng 25.12).

khoản nợ



        Lợi ích của quyền chọn khi thực hiện vào những ngày khác
Quy tắc hành vi tối ưu áp dụng. Giá trị kỳ vọng của lợi nhuận trì hoãn tới kỳ sau là trung bình của những giá trị hiện tại của chúng. Lợi ích của quyền chọn vào thời điểm i là số lớn hơn giữa lợi nhuận thực hiện ngay và giá trị hiện tại của lợi nhuận kỳ vọng của kỳ tiếp theo, hoặc 0. Quy tắc hành vi này thay đổi hồ sơ thời gian của lợi nhuận. Giá trị hiện tại làm của quyền chọn là 12,85 (bảng 25.13).

       Giá trị của lựa chọn trả trước là 4,61 với khoản vay 1000, hay 0,461% của khoản nợ ban đầu, Theo đó, giá trị thực sự của khoản nợ là 1000 – 4,61 = 995,39. Một markup bổ sung nên được cộng vào lãi suất nợ để làm cho giá trị bằng với giá trị nợ ban đầu. Markup này là chênh lệch điểu chỉnh theo quyền chọn giải thích cho giá trị thấp hơn của khoản nọ do quyền chọn đã được ngân hàng trao cho người đi vay.