Định nghĩa tính thanh khoản

     Tính thanh khoản là khả năng có đủ tiền mặt để cho vay và xử lý những yêu cầu rút tiền ký gửi ở một chi phí vừa phải trong một khung thời gian hợp lý. Các ngân hàng đáp ứng nhu cầu tính thanh khoản bằng cách thu tiền ký gửi và tăng nợ tài chính. Rủi ro thanh khoản là rủi ro không thể tăng tính thanh khoản hoặc tăng với chi phí cao.

     Để tự bảo vệ khỏi những xáo trộn thị trường, các ngân hàng dựa trên những tài sản có tính thanh khoản cao. Chúng là những tài sản có thể bán đi dễ dàng mà không bị mất giá trị. Một ví dụ điển hình là tín phiếu chính phủ, không rủi ro và ngắn hạn, giá trị của nó ít nhạy với những thay đổi lãi suất hơn. Nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao lại là một hạn chế vì thu nhập từ những tài sản đó là lãi suất không rủi ro ngắn hạn.

      Bởi vì thị trường tài chính ngắn hạn có tính thanh khoản cao, bao gồm thị trường giữa các ngân hàng, rủi ro thanh khoản đã bị xem thường trong những năm gần đây. Chi phí của tính thanh khoản giữa các ngân hàng và độ ngại rủi ro trong việc vay/cho vay giữa các ngân hàng là chênh lệch TED (chênh lệch tín phiếu chính phủ so với Euro/Dollar). Chênh lệch này thường là 50 điểm cơ sở nhưng có thể tăng gấp 10 lần trong cuộc khủng hoảng tài chính. Điều đó trở thành một sự thu hẹp tính thanh khoản, kích thích những biện pháp từ chính phủ như đảm bảo cho các trao đổi giữa các ngân hàng.

     Trong điều kiện thông thường, quản lý tính thanh khoản dựa trên khe hở thanh khoản đánh giá điều gì có thể xảy ra khi có thiếu hụt nghiêm trọng. Những kế hoạch dự phòng khủng hoảng tính thanh khoản đã được đề ra và sẽ được thảo luận ở phần cuối.

Hồ Sơ thời gian



 Hồ Sơ thời gian của khe hở thanh khoản

     Khe hở thanh khoản là những hiệu giữa số dư của tài sản và nợ của một danh mục đầu tư ngân hàng vào mọi thời điểm trong tương lai. Khi chỉ nói tới những tài sản và nợ hiện tại, chúng giảm giá theo thời gian, và hồ sơ thời gian của chúng là những đồ thị đi xuống. Những khe hở đó gọi là “tĩnh” vì những khoản vay, tiền ký gửi và khoản nợ trong tương lai sẽ bị bỏ qua. Chênh lệch giữa tài sản và nợ dự kiến có thể có ba dạng chính.