Chúng ta thường tập trung vào khe hở tĩnh vì thông thường không cần thiết phòng hộ những giao dịch tương lai. Hơn nữa, khe hở tĩnh được cập nhật thường xuyên và bao gồm những giao dịch mới.

      Khe hở lãi suất thả nổi có thể được định nghĩa tùy theo tham chiếu lãi suất thả nổi (Libor 1 tháng, Libor 1 năm…). Chúng được tính trong khoảng thời gian quản lý, nhưng phỏng đoán nên mở rộng hơn phạm vi đó để đảm bảo tài sản và nợ dự kiến không gây nên những vị thế khó khăn hay những khe hở quá lớn. các dải thòi gian không nên dài vì tính toán khe hở trong một dải thòi gian không cho biết chính xác ngày nào trong mỗi dải thời gian lãi suất thả nổi được cố định lại.

      Một lựa chọn thông thường là một tháng trong khoảng thời gian quản lý 3 năm. Phòng ngân quỹ xử lý những khoảng thòi gian ngắn hơn vì họ quản lý dòng tiền hàng ngày và sử dụng những phòng hộ ngắn hạn.Định nghĩa một khoảng thời gian tương lai bằng ngày bắt đầu và kết thúc (t và t+l). Khe hở lãi suất được tính từ bắt đầu khoảng thời gian. Quy ước trong cuốn sách này là tính khe hở lãi suất là hiệu giữa tài sản và nợ, với lãi suất cố định đã biết hôm nay hoặc các tài sản và nợ ‘nhạy với lãi suất’(IRS).

Khe hở lãi suất cố đinh (t,t+1) = tài sản lãi suất cố định (t) – nợ lãi suất cố định (t)

Khe hở lãi suất thay đổi (t,t+1) = tài sản nhạy với lãi suất(t) – nợ nhạy với lãi suất (t)

lãi suất



        CÁC PHÉP TÍNH KHE HỞ LÃI SUẤT

      Tính toán khá đơn giản sau khi đã xác định các lãi suất tham chiếu. Các khe hở lãi suất cố định dễ tính han vì không cần phải xác định tham chiếu lãi suất trong khoảng thòi gian tài sản và nợ có lãi suất cố định. Chú ý những tài sản và nợ không mang lãi không được bao gồm trong khe hở lãi suất, hình 23.1 cho thấy bảng cân đối vào một thời điểm t. tất cả những lãi suất đã biết vào ngày đó đều cố định. Chú ý số dư của tài sản và nợ có thể là một điểm trong thời gian hoặc trung bình trong dải thời gian.