Trả trước tuân theo những quy tắc kinh tế và phụ thuộc vào lãi suất cố định của khoản vay, lãi suất mới, kỳ hạn còn lại của khoản vay và khoản phí phạt. Lãi suất mới có thể cố định hoặc thả nổi tùy theo khách hàng. Ngoài ra hành vi của khách hành cũng hay tạo ra một khoảng thời gian giữa thời điểm nên trả trước và việc trả trước thật sự xảy ra.

       Mô phỏng tính kinh tế học của trả trước bao gồm xác định lợi ích cho người đi vay, đó là thua lỗ của người cho vay. Kích cỡ của tái thỏa thuận tiềm năng là kích cỡ của những khoản vay có thể tạo ra lợi ích dương cho khách hàng.

      Lợi ích tại một thời điểm thấp hơn giá trị của quyền chọn trả trước vì tái thỏa thuận lãi suất ờ một ngày muộn hơn có thể có ích hơn hiện tại. Đây là giá trị thời gian của quyền chọn. Giá trị kỳ vọng của những lợi ích này tại tất cả các thời điểm tới ngày đáo hạn là giá trị của quyền chọn. Tính toán lợi ích một thời điểm là một bước quan trọng để đánh giá quyền chọn. Nó tính ra nguy cơ với rủi ro quyền chọn, là điều cẩn thiết đề phòng hộ. Nó là một bước trung gian để đánh giá giá trị của quyền chọn, giá trị được ngân hàng bán hoặc cho đi. Nếu quyền chọn được cho đi vì cạnh tranh, giá trị của khoản vay giảm đi một lượng bằng giá trị quyền chọn.

khoản vay



       Những mô hình trả trước đơn giản nhất tính phần của khoản vay có thể bị tái thỏa thuận là một hàm của ‘tuổi thọ’ của khoản vay, sử dụng dữ liệu lịch sử. Những mô hình toàn diện hơn nên cân nhắc cả hiệu giữa lãi suất khoản vay và lãi suất hiện hành, và những biến nhân khẩu học như độ linh động địa lý hay những nhân tố khác kích thích việc trả trước. Dữ liệu lịch sử không nhất thiết được các ngân hàng chia sẻ mặc dù các tổ chức thế chấp thu thập những lượng dữ liệu lớn để theo đó xây dựng các mô hình hành vi khách hàng.

      Những khoản thế chấp đã được chứng khoán hóa trong thời gian dài. Những dữ liệu liên quan phải có sẵn vì mục đích chứng khoán hóa, vì những phiếu phát hành từ việc chứng khoán hóa được hỗ trợ bởi các dòng tiền, bao gồm trả trước, tái thỏa thuận lãi suất, hiệu ứng mùa của trả trước, tỷ lệ vỡ nợ và tỷ lệ phục hồi.

      Mô hình đan giản nhất là mô hình tỷ lệ trả trước cố định (CPR) trong đó trả trước ở bất kỳ ngày nào là tích của tỷ lệ trả trước với số dư của khoản vay. Trong thực tế, tỷ lệ trà trước phụ thuộc vào ‘tuổi’ của khoản vay. Tái thỏa thuận không xảy ra ở giai đoạn đầu vì lãi suất không thay đổi đột ngột và thỏa thuận lãi suất mới xảy ra. Khi khoản vay gần đến ngày đáo hạn, tái thỏa thuận mang lại ít lợi ích cho người đi vay vì thời gian còn lại không có nhiều. Do đó, tỷ lệ thỏa thuận lại tăng đều, đạt tói một giá trị nhất định và dừng ở đó trong một thời gian rồi giảm dần khi ngày đáo hạn tói gần. Trả trước và thỏa thuận lại thường phổ biến nhất giữa lúc bắt đầu và ngày đáo hạn. Hiệu ứng ‘tuổi thọ’ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ vỡ nợ, vì xác suất vỡ nợ thấp với những khoản vay mới hay khi kỳ hạn còn lại ngắn.

       Vì tái thỏa thuận, trà trước và võ nợ phụ thuộc vào tuổi thọ khoản vay và lãi suất, cẩn phái tách biệt những khoản vay tùy theo thời gian bắt đẩu để tính tói hiệu ứng tuổi thọ và chênh lệch lãi suất.

       Chú ý đường thời gian của lãi suất rất quan trọng với quyền chọn. Nêu lãi suất giảm đáng kể ở giai đoạn đầu của một khoản vay, điều đó có thể gây ra trả trước sớm. Nếu sụt giảm xảy ra muộn hơn, trả trước cũng có thể xảy ra muộn hơn. Mức độ lãi suất hiện tại không đủ để phản ánh hiệu ứng thời gian. Toàn bộ quá trình thay đổi của lãi suất là cẩn thiết. Do đó tỷ lệ trả trước không chi liên quan tới lãi suất hiện tại.