Phòng hộ dòng tiền được dùng để giảm nguy cơ của sự dao động dòng tiền, và để phòng hộ rủi ro lãi suất của những tài sản và khoản nợ lãi suất thả nổi. Trong phòng hộ dòng tiền, lợi nhuận và thua lỗ của công cụ phòng hộ trì hoãn cho tới khi những công cụ được phòng hộ có ảnh hưởng tới thu nhập.

       Trong mối quan hệ của phòng hộ dòng tiền, phái sinh được ghi chép ở giá trị công bằng trong bảng cân đối, cùng với những thay đổi trong giá trị công bằng chuyển tới cổ phần của cổ đông trong một dòng riêng biệt “những lợi nhuận và thua lỗ chưa thực hiện hoặc trì hoãn”. Khoản này được chuyển sang tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới đề mục “thu nhập lãi thực” khi dòng tiền từ công cụ được phòng hộ có ảnh hưởng tới lợi nhuận và thua lỗ.

       Phòng hộ những khoản đầu tư ngoại tệ trong các công ty con và chi nhánh cũng được xử lý giống như phòng hộ dòng tiền.

Tài chính



      Vào thời điểm bắt đầu phòng hộ, nhóm chuẩn bị tài liệu chinh thức của môi quan hệ phòng hộ, xác định:

-         Công cụ được bảo hộ

-         Chiến lược phòng hộ và loại hình rủi ro được cân nhắc

-         Công cụ phòng hộ

-         Phương pháp để đánh giá độ hiệu quả của mối quan hệ phòng hộ.

       Bất kể chiến lược phòng hộ là gì, phần không hiệu quả của phòng hộ được ghi nhận trong tài khoản lợi nhuận và thua lỗ dưới mục “lợi nhuận và thua lỗ thực của công cụ tài sản ở giá trị công bằng thông qua lợi nhuận và thua lỗ”

“Độ hiệu quả”của phòng hộ

      “Độ hiệu quả” của phòng hộ phải được ghi chép để công nhận phòng hộ. Khi bắt đầu và ít nhất hàng quý, nhất quán với văn bản ban đầu, nhóm sẽ đánh giá độ hiệu quả thực và dự đoán của mỗi quan hệ phòng hộ. Thử nghiệm độ hiệu quả thực được thiết kế để đánh giá liệu những thay đổi thực trong giá trị công bằng hay dòng tiền của công cụ phòng hộ và công cụ được phòng hộ có trong khoảng 80% tới 125% hay không. Thử nghiệm độ hiệu quả kỳ vọng được thiết kế để đảm bảo những thay đổi kỳ vọng trong giá trị công bằng hoặc dòng tiền của phái sinh có thể bù trừ cho công cụ được phòng hộ. Với những giao dịch nhiều khả năng, độ hiệu quả được đánh giá dựa trên cơ sở dữ liệu lịch sử của những giao dịch tương tự.