Độ nhạy, thưởng được gọi là delta, rất nổi tiếng. Một số độ nhạy phổ biến cho những công cụ vanilla được trình bày ở phần này.
Cổ phiếu
    Độ nhạy của cổ phiếu liên hệ biến đổi phần trăm trong giá trị hay thu nhập với biến đổi phần trăm trong chỉ số cổ phiếu hay thu nhập chi số cổ phiếu. Chúng là những thước đo thống kê. Beta ((3) liên hệ sự thay đổi trong giá cổ phiếu với sự thay đổi trong chỉ số thị trường trong cùng một thời gian. Nó là độ nhạy của thu nhập cổ phần (thay đổi phần trăm) so với thu nhập chi số (thay đổi phần trăm). Trong Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), thu nhập lý thuyết theo yếu cầu thị trường là hàm số của rủi ro tính bằng (3. Thu nhập yếu cẩu của cổ phiếu ri bằng lãi suất không rủi ro cộng với lệ phí rủi ro bằng |3 nhân với thu nhập chỉ số dư thừa .
    p là hệ số hổi quy của thu nhập cổ phần lịch sử so với thu nhập chi số lịch sử cùng được đo trên cùng khoảng thời gian. Cả hai thu nhập đều được tính là thay đổi phần trăm hay thu nhập logarit.
Theo định nghĩa, 3 bằng 1 đối với chi số cổ phần. Rủi ro của thu nhập cổ phiếu bắt nguồn từ những thay đổi trong chỉ số thị trường. Số hạng sai số là rủi ro cụ thể độc lập với chi số. Phươmg sai của thu nhập cổ phiếu bao gồm phương sai do những rủi ro chung và .phương sai do sai số hay rủi ro cụ thể.
p của thu nhập cổ phiếu rất quan trọng đối với quản lý danh mục đầu tư cổ phiếu. Nếu cổ phiếu có beta 1,2, sự thay đổi trong thu nhập chi số Ar 1% sẽ dẫn tới tăng 1,2% thu nhập giá trị. Những nhà quản lý danh mục đẩu tư trong thị trường theo chiếu giá lên sẽ lựa chọn cổ phiếu beta cao và trong thị trường theo chiều giá xuồng sẽ chọn cổ phiếu beta thấp.

Trái phiếu và khoản vay


Trái phiếu và khoản vay
     Độ nhạy của giá trái phiếu so với thay đổi lãi suất được gọi là duration (thòi gian đáo hạn bình quân). Nếu duration của trái phiếu là 5, giá trị trái phiếu sẽ thay đổi 5% khi tất cả các lãi suất thay đổi 1%. Một thước đo độ nhạy phổ biến với trái phiếu là điểm cơ bản DV01. Một điểm cơ bản (bp) là 1% của 1%, hay 0,0001. Trong ví dụ trước, thay đổi điểm cơ bản của giá trị trái phiếu là 5 bp ứng với thay đổi 1 bp của lãi suất.
     Bởi vì trái phiếu phụ thuộc vào lãi suất với nhiều kỳ hạn khác nhau, giả định sự thay đổi giống nhau của tất cả các lãi suất sẽ tiện lọi hơn. Độ nhạy của trái phiếu đôì với thay đổi đó được gọi là duration. Công thức duration liên hệ thay đổi giá trị trái phiếu với thay đổi của các lãi suất.
Trong công thức này, B là giá trị trái phiếu, D là duration và Ai là sự thay đổi chung của tất cả các lãi suất. Dòng tiền là Ft cho những ngày t khác nhau, và rt là lãi suầt thị trường. Giá trị tài sản V.