Có nhiều thước đo thua lỗ tiềm năng: thua lỗ đoán trước (EL), bách phân vị thua lỗ thua lỗ không đoán trước (UL) và những thua lỗ ngoại lệ. Có thể định nghĩa một vài thước đo khác, ví dụ “thiếu hụt dự đoán” hay thua lỗ dự đoán vượt qua một bách phân vị thua lỗ.

    Tất cả những thước đo đó sẽ được định nghĩa chính thức ở phần sau, ở đây chúng ta sẽ chỉ xem xét những định nghĩa rộng.

Thua lỗ đoán trước

     Thua lỗ đoán trước là trung bình gia quyền của tất cả những thua lỗ có thề. Nó được sử dụng rộng rãi với thua lỗ tín dụng, đặc biệt khi có một danh mục đầu tư lớn của các khoản vay. Trong dịch vụ tài chính bán lẻ, danh mục đầu tư mang tính ‘sạn’, nghĩa là tất cả các nguy cơ đều nhỏ so với kích thước danh mục đầu tư và không có giá trị lớn.

     Thua lỗ dự đoán là giá trị kỳ vọng của phân phổi thua lỗ và tạo ra nền tảng cho dự phòng kinh tế. Thước đo thua lỗ dự đoán sử dụng trong Basel 2 áp dụng với thua lỗ tín dụng. Đối với rủi ro thị trường, khung thời gian ngắn hơn với rủi ro tín dụng và p & L dự đoán từ danh mục đầu tư trao đổi thưởng không được tính đến.

     Thua lỗ rủi ro sẽ không bao giờ bằng với giá trị kỳ vọng đó. Đôi khi chúng sẽ cao hơn hoặc thấp hơn. Với một nguy cơ, thua lỗ thật sự không bao giờ bằng với trung bình vì chỉ có thể bằng 0 hoặc bằng thua lỗ khi vỡ nợ. Mặt khác, đổi với một danh mục đầu tư, thua lỗ dự đoán là giá trị kỳ vọng của phân phôi thua lỗ.

thua lỗ



   Bách phân vị thua lỗ

     Một thua lỗ tiềm năng là một bách phân vị thua lỗ được xác định với một mức độ tin cậy định trước. Ngưỡng thua lỗ là L(a) với a là xác suất vượt qua L{à). Ví dụ, nếu L(l%) bằng 100, điều đó có nghĩa thua lỗ sẽ không vượt quá 100 trong hơn 1% các trường hợp. Xác định thua lỗ tiềm năng ở những mức độ tin cậy khác nhau đòi hỏi cần có một phân phối thua lỗ của danh mục đầu tư. Phân phổi thua lỗ đưa ra tần suất của những giá trị thua lỗ có thể. Nó rất nhạy với tính phụ thuộc giữa các vị thế. Đây là một thách thức lớn trong việc đo lường bách phân vị thua lỗ trong các mô hình danh mục đầu tư tín dụng và được xử lý ở Mục 9 (tính phụ thuộc) và mục 12 (các mô hình danh mục đầu tư tín dụng).