Chương này định nghĩa giá trị kinh tế (EV) và những lý do nó là một biến mục tiêu của ALM. Về bản chất, giá trị kinh tế là giá trị thực, hiện tại của dòng tiền tài sản và dòng tiền nợ. Giá trị kinh tế xem xét giá trị của quyền chọn ẩn trong tài sản và nợ, trong khi các khe hở không tính tới những yêu tố này. Một tính chất chung của giá trị kinh tế là nó liên hệ rất đơn giản với giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập lãi thực (NII) của ngân hàng cho tới kỳ hạn dài nhất.

     Do đó, giá trị kinh tế phản ánh tính lợi nhuận trong tương lai dài hạn, trong khi NII chỉ phản ánh được một thời gian ngắn hạn một hoặc hai năm. Cả hai cách nhìn về tính lợi nhuận đều cẩn thiết và cả hai biến mục tiêu đều có rủi ro. Ngân hàng nên kiểm soát rủi ro đó. Quan hệ giữa EV và NII tương lai được trình bày bằng cách phân tích những dòng tiền bao gồm tất cả tạo ra từ bảng cần đối kế toán thành dòng tiền vốn và dòng tiền lãi.

giá trị kinh tế (EV)



      Chúng tôi trình bày phép tính giá trị kinh tế trong phần 26.1. Để giá trị kinh tế có những tính chất như trên, chúng ta cần dùng tỷ lệ chiết khâu là lài suất không rủi ro, cho phép đánh giá chênh lệch rủi ro giữa các lãi suất vay và lãi suất tiền ký gửi. Bước tiếp theo là một ví dụ bảng cân đối kế toán đơn giản, tính toán giá trị kinh tế từ các dòng tiền và NII định kỳ từ chênh lệch với lãi suất không rủi ro. Dòng tiền độc lập với các lãi suất hiện hành khi cân nhắc tài sản và nợ lãi suất cố định. Phép tính NII phụ thuộc vào lãi suất khi ta mở rộng khoảng thời gian dài hơn kỳ hạn của tài sản và nợ.

      Quá trình cho phép so sánh giá trị hiện tại của dòng tiền với giá trị hiện tại của NII định kỳ phỏng đoán trong khoảng thời gian dài nhất (chiết khâu cả hai ớ cùng tỷ lệ). Bước cuối cùng tổng quát hóa kết quả bằng cách chọn bất kỳ khoảng thời gian nào và xử lý như trên. Trong cả hai trường hợp, ta thây giá trị kinh tế bằng với giá trị của NII được điều chỉnh cho những thay đổi lãi suất. Phần 26.4 giải thích tại sao tính chất đó thường đúng.

Chương tiếp theo xử lý quản lý rủi ro lãi suất của EV, thay vì thu nhập lãi là biến mục tiêu của ALM. Vì mục đích này, những khe hở kỳ hạn bình quân (duration) thay thế cho khe hờ lãi suất.