So khớp tiền mặt có nghĩa là khâu hao tài sản và nợ gần giống nhau. Trong trường hợp đó sẽ không có rủi ro lệch hạn. Tất cả những khe hở thanh khoản bằng 0. Khi bảng cân đối kế toán sụt giá theo thời gian, nó không gây ra thâm hụt hay dư thừa vì thanh toán tài sản bằng thanh toán nợ. Tương tự, bảng cân đối sẽ được giữ gần bằng không tạo ra nhu cầu hay khoản đầu tư nào.

     Vì thế câu trúc của ngân hàng bao gồm cho vay ở kỳ hạn dài hơn kỳ hạn của nợ. Đây là một vị thế tự nhiên của ngân hàng thương mại vì họ muốn lợi dụng chênh lệch dương giữa lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn.


     Lệch hạn gây ra cả rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Nghĩ tới trường hợp một khoản vay, thay vì cho toàn bộ ngân hàng. Giả sử ngân hàng đưa ra khoản vay trả một lần cho một khách hàng. Khi nợ có biểu đồ đúng như khoản vay, cả hai sẽ có cùng một lượng và kỳ hạn. Theo thời gian, không có khe hờ thanh khoản nào do khoản vay và khoản nợ sao chép. Giả sử chúng đều có lãi suất cố định. Lãi suất khoản vay thường sẽ cao hơn lãi suất khoản nợ, hiệu của chúng là thu nhập lãi thực (NII) hay doanh thu lãi trừ chi phí lãi. NII của khoản vay là cố định vì chi phí đã cố định khi khoản vay được phát hành. Khoản vay cũng có thể có lãi suất thả nổi.

      Nó sẽ sử dụng một lãi suất thị trường nào đó ví dụ như Libor 3 tháng. Trong một năm, sẽ có bốn lần khoan vay được gia hạn. Mỗi lần, lãi suất của khoản vay vẫn là lãi suất Libor hiện này. Nêu khoản nợ có cùng lãi suất tham chiếu thì NII sẽ cố định. Khớp cả tính thanh khoản và lãi suất tạo ra một NU cố định và không có rủi ro thanh khoản. Đây là lý do tại sao so khớp tiền mặt và lãi suất được coi là trường hợp tham chiếu.

rủi ro lãi suất



       Ngoài ra, bất kỳ sự chênh lệch kỳ hạn và lãi suất nào cũng tạo ra rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Nêu các khoản vay không có đủ vốn, sẽ có khe hở dương hay thâm hụt trong tương lai, Những thâm hụt đó tạo ra rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất vì không thể biết khoản sẽ bù cho khoản cho vay có lãi suất bao nhiêu. Nếu có dư thừa vốn thì không có rủi ro thanh khoản, nhưng có rủi ro lãi suất vì chúng ta không biết lượng tiền dư thừa sẽ được cho vay ở lãi suất bao nhiêu.

     Mục tiêu phụ thuộc vào ALM muốn loại bỏ hết những khe hở thanh khoản hay duy trì lệch hạn. Lệch hạn nên nhất quán với dự đoán về lãi suất. Ví dụ, với lãi suất cố định, giữ cho bảng cân đối kế toán không đủ vốn chi họp lý khi lãi suất ngắn hạn thấp hon lãi suất dài hạn, hoặc khi đánh cược vào lài suất giảm nên trì hoãn vốn sẽ giúp tiết kiệm chi phí.

     Ngược lại, bảng cân đối kế toán dư thừa vốn nghĩa là dự đoán lãi suất tăng vì Đầu tư lượng tiền thừa sẽ xảy ra trong tương lai. Đôi khi, bảng cân đối kế toán dư thừa vốn trong khoảng thòi gian dài vì có nhiều tiền ký gửi han các khoản vay. Trong trường hợp đó, tiền dư thừa sẽ được đầu tư vào thị trường và chính sách đầu tư phải tuân theo những chỉ đạo về doanh nghiệp lãi mục tiêu và rủi ro lãi suất với những đầu tư tương lai