Hãy xem xét bảng cân đối kế toán dự kiến với tài sản và nợ khấu hao. Chú ý dòng tiền vốn đo lường sự thay đổi của khe hở thanh khoản và là những khe hở tính thanh khoản biên. Với các quy ước dấu, khấu hao tài sản là một dòng tiền vào và khấu hao nợ là dòng tiền ra.

    Dòng tiền vốn là giá trị thực của những dòng tiền ra và vào đó. Chúng giống như sự thay đổi trong khe hở tính thanh khoản (bảng 26.9). Doanh thu và chi phí lãi của kỳ t được tính từ số dư của tài sản và nợ vào thời điểm t -1 sử dụng lãi suất cố định ứng với tài sản và nợ.

     Từ các đồng vốn và dòng NII, ta tính ra giá trị hiện tại của chúng. Giá trị kinh tế là tổng của giá trị hiện tại của dòng vốn và NIL Những hệ số chiết khấu sử dụng lãi suất không rủi ro cuối cùng 6% (bảng 26.11). Cuối cùng, giá trị hiện tại của dòng tiền bao gồm tất cả cho phép tính giá trị kinh tế và giống như giá trị hiện tại của tất cả các NII và dòng vốn tới thời điểm bị ngắt (bảng 26.12).

       Giá trị hiện tại của NII là giá trị kinh tế trừ đi giá trị hiện tại của dòng vốn:
Giá trị hiện tại (Nil) = EV – Giá trị hiện tại (dòng vốn)
Giá trị hiện tại (NII) = 64,4 – (-5) = 69,4
Những quan hệ này đúng với mọi khoảng thời gian. Khi mỡ rộng khoảng thời gian thành khoảng dài nhất, ta thấy giá trị hiện tại của tất cả các NII trên những khoảng nhỏ bằng giá trị kinh tế trừ đi khe hở thanh khoản cuối cùng, bằng với cổ phần theo giá trị tuyệt đối.

dòng tiền



      Giá trị kinh tế là một biến mục tiêu của ALM vì nó tóm gọn giá trị hiện tại của NII tới mọi điểm ngắt chi trong một con số. Điều này khắc phục nhược điểm lớn của khe hở, đó là tính định kỳ Khe hở có thể dùng để phòng hộ NII của những kỳ hạn nhất định, nêu không có quyền chọn trong bảng cân đối, nhưng giá trị kinh tế là thước đo tốt hơn của dòng thu nhập lãi thực NII tới một điểm ngắt nào đó. Quản lý rủi ro của EV phải được thực hiện đổng thời với quản lý he hở vì nó áp dụng với khoảng thời gian dài hơn. Chương tiếp theo sẽ giải thích rủi ro EV có thể được phòng hộ và kiểm soát ra sao.