Bây giờ giả sử công ty có nghĩa vụ trả khoản nợ 60 trong kỳ hạn một năm. Công ty chỉ có thể tuân thủ nghĩa vụ này nếu giá trị tài sản cao hơn lượng tiền phải trả. Xác suất giá trị tài sản thấp hơn 60% là khoảng 20%.

vỡ nợ



    Đây là xác suất vỡ nợ của công ty. Khi tính toán ngưỡng của tỷ số giá trị cuối giá trị đầu, chúng ta nhìn nó theo hai cách. Bách phân vị giá trị là xác suất giá trị sẽ thấp hơn ngưỡng này. Nó là Var cho giá trị của công ty. Rất dễ hiểu khi tỷ số thấp hơn 1 đó là thước đo khả năng thanh toán và rủi ro tín dụng. Nó đo đạc khả năng thanh toán bởi vì tỷ số thể hiện sự sụt giảm trong giá trị cổ phần. Nó đo đạc rủi ro tín dụng vì khi giá trị cổ phần giảm đáng kể, khả năng thanh toán cũng bị suy giảm đến mức uy tín tín dụng cũng tụt giảm đáng kể.

      Điều này còn rõ ràng hơn khi nhìn vào ngưỡng của tỷ số bằng với tỷ số nợ họp đồng so với giá trị tài sản ban đầu. Bách phân vị khiến cho tỷ số bằng với tỷ số nợ so với giá trị tài sản chính là xác suất vỡ nợ của công ty. Nền tảng đánh giá rủi ro cho công ty được phát triển đầu tiên bởi Merton và sau đó được gọi là “mô hình cấu trúc của vỡ nợ”.