Giá chuyển khoản là lãi suất tham chiếu nội bộ dùng để chuyển giao vốn nội bộ và phân bố thu nhập. Chúng cũng dùng để đặt ra những tiêu chuẩn định giá. FTP nên đưa ra những tiêu chuẩn kinh tế cho chi phí cấp vốn thông qua markup và markdown (giá bổ sung lên/xuống) để đạt được tính lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Vì các ngân hàng không muôn chênh lệch thương mại tăng hoặc giảm với lãi suất, hệ thống FTP phải chuyển giao rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản cho đơn vị trung ương ALM, chịu trách nhiệm quản lý rủi ro.

        Phần 29.1 sẽ cho thấy giá chuyển giao đúng phải dựa hên thị trường để tránh ac-bit nội bộ của các đơn vị kinh doanh và ac-bit bên ngoài bởi người đi vay. Có sự khác biệt giữa “giá chuyên khoản thuần túy” có mục đích duy nhất là chuyển tiền giữa các đơn vị với chi phí vốn “bao gồm tất cả”, bao gồm chi phí hoạt động cộng với markup cho chi phí rủi ro, có mục đích xác lập giá cho khách hàng dựa trên rủi ro. Phần 29.2 định ra những tiêu chuẩn kinh tế cho giá chuyển giao cho các hoạt động cho vay. Phần 29.3 nói về vấn đề đó với các đơn vị thu nhận tiền. Phần 29.4 làm rõ các điều kiện đảm bảo chuyển giao hiệu quà rủi ro lãi suất cho đơn vị ALM. Phần 29.5 nói về định giá dựa trên rủi ro với cho vay.

Chênh lệch thương mại



CHÊNH LỆCH THƯƠNG MẠI VÀ CHÊNH LỆCH KỲ HẠN

        Nguyên tắc cơ bản để xác định những giá chuyển giao “kinh tê”’ là liên hệ với giá thị trường vì cơ hội ac-bit giữa lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường nảy sinh khi chênh lệch tổn tại. Các tiêu chuẩn kinh tế xuất phát từ giá thị trường. Mark-up hay mark-down so với các tiêu chuẩn sẽ phục vụ cho việc định giá trong tương quan với tính lợi nhuận mục tiêu của ngân hàng. Trong phần này và những phần sau, chúng ta bỏ qua mark-up và mark-down thương mại và đoạn cuối cùng trong chương này sẽ thảo luận có thể làm gì với những mark-up và mark-down “thương mại thuần túy” đó. Chúng độc lập với mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.

       Chênh lệch giữa giá khách hàng của ngân hàng với lãi suất thị trường sẽ tạo ra ac-bit của khách hàng và các đơn vị kinh doanh. Để đảm bảo ngân hàng có biên là số dương bất kể ở lãi suất nào, cần phải liên hệ giá chuyển khoản với kỳ hạn vì câu trúc kỳ hạn của lãi suất thông thường không phẳng. Trường hợp giao dịch trả một lần là dễ phân tích nhất. Giá khoản vay trả một lẩn nên cao hơn lãi suất thị trường của cùng kỳ hạn đó. Lãi suất tiền ký gửi kỳ hạn nên thấp hơn lãi suất thị trường của cùng kỳ hạn. Lãi suất tiền ký gửi yêu cầu nên thấp hơn lãi suất ngắn hạn. Khi cho vay cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng có thể mượn tiền từ thị trường và có chênh lệch dương bất kể kỳ hạn là gì. Khi thu nhận nguồn tiền dưới lãi suất thị trường, ngân hàng có thể đầu tư chúng vào thị trường và có lãi. Hình 29.1 mình họa cho kế hạch định giá đơn giản này, áp dụng cho mọi khoản vay trả một lần và tiền ký gửi.