Chi phí rủi ro bao gồm hai phần: thua lỗ thống kê hay thua lỗ trung bình do vỡ nợ (“thua lỗ dự đoán”) và chi phí những khoản lỗ lớn hơn trung bình. Thua lỗ thống kế là thua lỗ trung bình do vỡ nợ, tính theo phần trăm của khoản vay. Thua lỗ dự đoán tùy vào rủi ro tín dụng của người đi vay. Nó bằng với tỳ lệ thua lỗ DP X EAD.

      Chi phí các khoản lỗ vượt thua lỗ trung bình được tính bằng vốn, theo luật (Basel 2) hoặc vốn kinh tế dựa trên rủi ro dựa trên mô hình. Cả hai con số đều có thể làm tham chiếu. Chi phí vốn (cổ phần) là thu nhập trên vốn (ROC) mục tiêu hay thu nhập trên cổ phần mục tiêu (ROE). Nêu khoản vay không có rủi ro, sẽ không có chi phí vốn và cả thua lỗ thống kê từ vỡ nợ và thua lỗ vượt trung bình sẽ bằng 0. Chi phí rủi ro sẽ bằng 0.

      Nếu có rủi ro tín dụng, ta sẽ cần vốn bổ sung cho thua lỗ dự đoán. Chi phí vốn phần trăm phân phối cho giao dịch là chi phí cổ phần cho ngân hàng, k. Cấp vốn kết hợp nợ và vốn. Chi phí vốn rủi ro tín dụng là chi phí để thay thế vốn K cho lượng nợ D, như trong hình 29.3. Tất cả các chi phí hay mark-up cho chi phí rủi ro sẽ được biểu diễn là phần trăm của tài sản vì chúng ta tìm lãi suất mục tiêu. Hơn nữa, vì lãi suất đó là trước thuế, tất cà các chi phí nên là trước thuế bao gồm chi phí vốn cổ phần. Giả định chi phí vốn là 25% trước thuế và chi phí khoản nọ trước thuế là 7%.

Chi phí cấp vốn hay giá chuyển khoản là i = 7%. Chi phí bổ sung thay thế vốn bằng nợ là: K(k -i) – K x (25%-7%)

Chi phí bổ sung này được gọi là phí rủi ro do rủi ro tín dụng. Nếu vốn yêu cầu theo luật là 4% của khoản vay 1000 (tỷ lệ Cooke) hay 40 thì lệ phí rủi ro là: 40 X (25%-7%)=7,2


Chi phí rủi ro



      Để đi từ thu nhập trên vốn yêu cầu tới biên mục tiêu của khoản vay, ta tìm mark-up yêu cầu theo tỷ lệ phần trăm khoản vay trên chi phí bao gồm tất cả. Phần trăm này là tỷ số của phí rủi ro với khoản vay. Tỷ số sử dụng tỷ lệ vốn với vay, là cố định (4% với tỷ số Cooke):

(k-i)(K/vay) theo % khoản vay = 4%x (25% – 7%) = 0,72%

Lệ phí vốn, (k-i)K/A tỷ lệ thuận với vốn và lượng dư của chi phí vốn so với nợ. Lệ phí rủi ro này cũng phụ thuộc vào mục tiêu thu nhập trên vốn.

    Chú ý trong phép tính này, ta bỏ qua chi tiết vốn nên được tái đẩu tư không rủi ro. Nếu không, nếu vốn cấp tiền cho các khoản vay hay tài sản rủi ro, sẽ chịu rủi ro tín dụng bổ sung, đòi hỏi vốn bổ sung. Điều chinh này cho tái đầu tư vốn ớ lãi suất không rủi ro được trình bày đầy đủ trong chương 55 về hoạt động điều chỉnh theo rủi ro. Nó già định khoản vay hoàn toàn được cấp vốn từ nợ và vốn có thu nhập bên cạnh thu nhập từ khoản vay ở lãi suất không rủi ro.

    Bắt đâu từ giá chuyển khoản thuần túy, chi phí khoản nợ sao chép khoản vay ta cộng thêm chi phí hoạt động. Sau đó ta cộng thêm chi phí rủi ro với hai thành phần: thua lỗ dự đoán và lệ phí rủi ro vì sử dụng vốn. Cuối cùng, ta có thể cộng những động cơ thương mại, âm hoặc dương, để có giá cuối cùng. Giá cuối cùng này không phải là giá dựa trên rủi ro là chi phí bao gồm tất cả của vốn cộng với chi phí rủi ro, trừ khi động cơ thương mại bằng 0.

     Phép tính này từ dưới lên, tính tổng tất cả các khoản phần trăm, để tìm ra lãi suất khách hàng mục tiêu và chênh lệch mục tiêu. Chênh lệch mục tiêu tính theo phần trăm là chênh lệch giữa lãi suất mục tiêu và giá chuyên khoản hay 8,72% – 7% = 1,72%. Từ ví dụ trên, đễ dàng tính từ trên xuống bắt đầu từ doanh thu lãi và đảm bảo ROC là 25% trước thuế. Với một khoản vay 1000, cơ sở vốn là 40, và theo những giả định trên, khoản nợ là 1000 – 40 = 960, lãi suất áp dụng vào khoản nợ đó. Những khoản khác sẽ được tính bằng cách áp dụng những phần trăm trên vào giá trị khoản vay 1000. Tính giá trị của tất cả các khoản dẫn tới thu nhập trước thuế là 10, giá trị ứng với 25% thu nhập trên vốn 40.