Nguyên tắc sao chép một khoản nợ ứng với khoản vay và sao chép đầu tư với nguồn tiền thích hợp với nguyên lý phòng hộ hoàn toàn. Với vay, nó đặt ra chi phí vốn bằng chi phí khoản nợ làm triệt tiêu rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Với tiền ký gửi, quá trình sao chép chỉ mang tính xấp xỉ nhưng cùng tuân theo một nguyên tắc. Nhìn vào từng khoản vay riêng lẻ; những khoản nợ “phản chiêu” đó sẽ xóa bỏ cả rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Do đó, giá chuyển khoản chuyển giao rủi ro tới ALM, loại bỏ những rủi ro đó khỏi thu nhập lãi thực thương mại. Tuy nhiên, để đảm bảo cho quá trình chuyển giao rủi ro này đòi hỏi một thành tố khác ngoài hệ thống FTP.

Ví dụ, nêu một tài sản lãi suất cố định tạo ra 11% so với giá chuyển khoản 9%, biên là 2%. Tính toán lại biên của tài sản đó ở một lãi suất mới vào kỳ sau sẽ tạo ra một sự thay đổi. Đặt lại giá chuyển khoản sau khi phát hành nợ thành 10%, vì lãi suất tăng 1%, sẽ làm cho biên giảm 1%. NII thương mại sẽ lại gặp rủi ro.

rủi ro



Để loại bỏ rủi ro này, giá chuyển giao không thể được phép thay đổi sau khi đã được ấn định cho một giao dịch. Giá chuyển khoản ấn định cho một giao dịch trong những kỳ liên tiếp phải là giá chuyển khoản lịch sử, bắt đầu tư ngày khoản vay được ký hợp đồng. Điều đó sẽ cố định chênh lệch thương mại trong thời gian tồn tại của giao dịch. Chênh lệch tính theo giá chuyển khoản thay đổi sẽ chỉ là chênh lệch biểu kiên, không thể miễn dịch với rủi ro lãi suất vì chúng thay đổi theo lãi suất. Tuy nhiên, sử dụng những giá lịch sử vậy với mỗi giao dịch sẽ tạo ra áp lực cho hệ thống thông tin.

Bảng 29.1 cho thấy hồ sơ thời gian của chênh lệch bên ngoài, tính theo lãi suất thị trường và chênh lệch miễn dịch với lãi suất tính theo giá chuyển khoản lịch sử định giá vẫn phù hợp với biên mục tiêu 2% trên giá chuyển khoản. Chỉ có biên của giá  bảo đảm là cố định với thời gian. Điều này khiến cho hệ thống giá chuyển khoản toàn diện và nhất quán.