Trở lại vấn đề cổ phiếu là gì? Vậy cổ phiếu là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần, cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
     Cổ đông có các quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty: được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh, được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ, hoặc phá sản của công ty trong phạm vi số vốn cổ phần của mình.

Cổ phiếu, cổ phần và cổ đông


     Cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công ty và lúc công ty cần gọi thêm vốn.Cổ phiếu có giá trị ban đầu, được ghi trên cổ phiếu, gọi là mệnh giá. Mệnh giá của cổ phiếu chỉ là giá trị danh nghĩa. Quá trình kinh doanh tùy theo số lợi nhuận thu được và cách phân phối lợi nhuận, mệnh giá sẽ được tăng lên và ngày càng bỏ xa giá trị ban đầu.
     Ví dụ công ty XYZ có vốn cổ phần ban đầu 100 triệu đồng, với mệnh giá cổ phần 100.000đ. Sau một năm hoạt động công ty có lợi nhuận (đã trừ thuế) 10 triệu đồng, tức là tỷ suất lợi nhuận 10%. Công ty thực hiện phương thức phân chia lợi nhuận theo công thức 50/50. Nghĩa là dùng một nửa để chi cổ tức, còn một nửa để tích lũy tái sản xuất mở rộng. 5 triệu lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn cổ phần công ty có hai cách thực hiện: hoặc tăng thêm số lượng cổ phần cho các cổ đông theo tỷ lệ 1/20, nghĩa là cứ có 20 cổ phần thì được cộng thêm 1 cổ phần. Cách làm này gặp khó khăn bởi những người không có đủ 20 cổ phần thì không được nhận thêm một cổ phần mới. Do đó, các công ty thường áp dụng theo cách thứ hai, là tăng mệnh giá cổ phần theo tỷ lệ 5%. Nghĩa là mệnh giá lúc phát hành 100.000đ thì sau một năm sẽ là 105.000đ. Đây là cách phân chia lợi nhuận phổ biến nhất của các công ty cổ phần. Theo cách phân chia này, cổ đông vừa được hưởng cổ tức hàng năm, vừa được hưởng giá trị cổ phần tăng lên mà bản thân cổ đông cũng chưa nhìn thấy được.
     Với phương thức phân chia lợi nhuận này, mệnh giá cổ phiếu sẽ ngày càng gia tăng. Đến một lúc nào đó, do mệnh giá cổ phiếu quá lớn sẽ bất lợi cho giao dịch mua bán trên TTCK, người ta phải thực hiện chia nhỏ giá trị cổ phiếu.
     Trở lại công ty XYZ với tỷ suất lợi nhuận và cách phân chia lợi nhuận như trên, thì sau 10 năm mệnh giá cổ phiếu sẽ là 150.000đ. Trong khi trên thị trườngmệnh giá cổ phiếu của các công ty khác chỉ là từ 10.000 đ đến l00.000đ, thì mệnh giá công ty XYZ là quá lớn không thuận lợi cho việc mua bán, do đó công ty phải thực hiện việc chia đôi cổ phần để có mệnh giá 75.000đ. Việc chia nhỏ giá trị cổ phần không làm thay đổi vốn công ty, cũng không làm thay đổi vốn cổ phần của các cổ đông. Nhưng nó làm cho số lượng cổ phiếu của công ty cũng như các cổ đông tăng lên. Về mặt tâm lý, đây là một sự kích thích rất lớn. Vì nó chứng tỏ công ty làm ăn phát đạt, và các nhà đầu tư tìm đến những loại cổ phiếu có giá trị nhỏ này để mua, từ đó nó làm cho giá thị trường cổ phiếu tăng lên, uy tín công ty được củng cố.
     Tuy nhiên, công ty cổ phần cũng có những cách phân chia lợi nhuận khác: Đem chia tất cả lợi nhuận cho tổng số cổ phần để chứng tỏ công ty làm ăn có hiệu quả. Nhưng, như vậy thì sẽ không gia tăng được sức mạnh của công ty, vì không có vốn tích lũy. Hoặc giữ lại tất cả lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản xuất. Dĩ nhiên các cổ đông không ưa thích cách phân chia này, vì họ không có thu nhập.
     Loại cổ phiếu mang đầy đủ các đặc tính nêu trên đó là cổ phiếu thông thường (ordinary share).