Với các khoản ký gửi, nguyên tắc như trên vẫn đúng. Nó có nghĩa là phải xác định tài sản ‘phản chiếu’ sao chép thời gian biểu kỳ hạn của tiền ký gửi. Giá chuyển khoản phản ánh lãi suất thị trường của những cơ hội đầu tư khác ngoài cho vay.

    Lãi suất của chúng là “chi phí cơ hội” của tiền ký gửi. Chúng có thể làm giá chuyển khoản vì chúng đại diện cho thu nhập ngân hàng sẽ mất nếu đầu tư thay vì cho vay. Tiền ký gửi ngắn hạn sẽ thu được lãi suất thị trường ngắn hạn và tiền ký gửi chủ chốt dài hạn thu được lãi suất dài hạn.

 các nguồn tiền



       Dựa trên nguyên tắc này, giá chuyển khoản cho tiền ký gửi phụ thuộc vào ngân hàng mô phỏng hổ sơ thời gian của tiền ký gửi ra sao. Sử dụng lãi suất ngắn hạn phù họp với phần bất ổn của tiền ký gửi. Sử dụng lãi suất dài hạn áp dụng với phần biên động của tiền ký gửi. Sử dụng lãi suất dài hạn áp dụng cho phần tiền ký gửi chủ chốt. Cả hai phần đều có thế được xác định từ những mô hình chuỗi thời gian.

       Những giải pháp phức tạp hơn cũng có thể dùng làm tham chiếu. Chi phí cơ hội của tiền ký gửi dư thừa trơ thành lãi suất trung bình của những khoản đầu tư đó. Đầu tư phụ thuộc vào giả thuyết về tiền ký gửi trả dần. Nếu trả dần trong 10 năm, có mười lần đầu tư từ 1 tới 10 năm. Chính sách “bậc thang” này bình quân chuỗi thời gian của câu trúc kỳ hạn hàng năm của lãi suất khi các khoản đầu tư được gia hạn (xem chương 22 về quản lý tính thanh khoản).