Với tất cả những công cụ có thể được sao chép bằng một danh mục đầu tư của những cồng cụ khác, độ nhạy được tính từ thành phần của danh mục đầu tư sao chép đó. Với hợp đồng giao sau, danh mục đầu tư sao chép là tĩnh. Điều này khiên cho việc rút ra độ nhạy của những công cụ này không khó khăn.

Hợp đồng giao sau


    Tất cả các hợp đổng giao sau có thể được sao chép với các danh mục đầu tư tĩnh. Do đó, chúng có một công thức đánh giá dạng đóng. Độ nhạy được tính ra từ phân tích hoặc bằng số sử dụng những công thức đó. Ví dụ, hợp đồng tỷ giá giao sau tùy vào ba yếu tố rủi ro: lãi suất hiện tại và hai lãi suất của hai loại tiền tệ. Tương tự, hợp đổng lãi suất giao sau được sao chép bằng cách cho vay và đi vay cùng một khoản trong cùng một tiền tệ với những kỳ hạn khác nhau. Hợp đổng này có hai thành phần ngắn và dài hạn, với hai dòng tiền. Độ nhạy của mỗi thánh phần là duration của những dòng tiền đó với dâu phù hợp.
     Hoán đổi lãi suất (IRS) có thể được coi như là đi vay cùng một khoản bằng một loại tiền tệ với cùng kỳ hạn nhưng lãi suất khác nhau. Theo cách nhìn “chiều ngang”, độ nhạy với lãi suất cố định là độ nhạy của thành phần lãi suất cố định. Chú ý độ nhạy của IRS hoàn toàn phụ thuộc vào thành phần lãi suất cố đinh vì thành phần lãi suất thả nổi có duration bằng 0.