Chính những đặc trưng về cơ cấu pháp lý, cơ cấu vốn, cơ cấu tổ chức nói trên của công ty cổ phần, tạo cho công ty cổ phần có những ưu thế tuyệt diệu: có khả năng huy động tập trung một khối lượng vốn khổng lồ cho sự phát triển, từ những số vốn lẻ tẻ trong dân chúng. Công cuộc kinh doanh của công ty có thể “sống mãi” dù có đến một nửa hay đa phần số cổ đông bị chết. Vốn đầu tư của cổ đông không bị bất động, họ có thể chuyển vốn đầu tư từ công ty này sang công ty khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác một cách dễ dàng qua mua bán cổ phiếu.

Khả năng huy động vốn của công ty Cổ Phần


     “Không có sáng kiến tìm ra cổ phiếu thì không thể nghĩ đến phát triển, cổ phiếu đã trở thành công cụ để chuyển những dành dụm trong mọi tầng lớp dân cư vào đầu tư sản xuất. Cổ phiếu tạo điều kiện tách bạch chức năng của nhà kinh doanh với chức năng của nhà cấpvốn. Một người có tài kinh doanh có thể trở thành nhà kinh doanh kể cả khi anh ta không giàu”. (Prof. Wolfarm Engels – Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần, Hà Nội, 1989).
     Về lịch sử, loại hình công ty cổ phần là “em út”, mới xuất hiện trong vòng hai thế kỷ nay, nhưng nó có tốc độ phát triển kỳ diệu.
     Ở Hoa Kỳ hiện nay hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt dộng có hiệu quả đều là công ty cổ phần. Trong tổng số 16 triệu doanh nghiệp trong cả nước chỉ có 20% là công ty cổ phần, nhưng số công ty này chiếm tới 90% tổng thu nhập hàng năm của cả nước.
     Một công ty cổ phần, cổ phiếu có thể được nắm giữ bởi một số ít người, có thể chỉ giới hạn trong dòng họ hoặc trong số bạn bè thân hữu – Đó là loại công ty cổ phần tư nhân. Loại công ty cổ phần cổ phiếu được nắm giữ bởi nhiều người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Có thể có hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn người – đó là loại công ty cổ phần công cộng (công ty cổ phần đại chúng).
     Những nước công nghiệp phát triển, hầu hết các công ty cổ phần đều là công ty cổ phần công cộng. Một công ty có thể có hàng vạn cổ đông. Ở Mỹ, các công ty IBM, ATT, GMC có số cổ đông lên đến hàng triệu. Và cổ đông của các công ty cổ phần công cộng luôn luôn biến động, bởi số cổ phiếu của họ thường xuyên được giao dịch mua đi bán lại. Chính đây là lý do để chúng ta bắt đầu đi vào giải thích vai trò và cơcấu của thị trường chứng khoán. Công ty cổ phần và TTCK có mối quan hệ hữu cơ như hình với bóng. Không có công ty cổ phần thì sẽ không có sự xuất hiện của ngành công nghệ chứng khoán. Công ty cổphần là nền tảng của công nghệ chứng khoán; Ngược lại, không có ngành công nghệ chứng khoán thì công ty cổ phần khó có khả năng phát triển. Công ty cổ phần và TTCK là hai định chế kinh tế, tài chính đặc trưng của kinh tế thị trường.