Nếu các đơn vị kinh doanh mua nguồn tiền ở giá thấp hơn thị trường, họ có thể làm giảm giá cho vay với khách hàng hoặc các đơn vị mua bán có thể giữ những danh mục đầu tư của những tài sản ở giá thấp hơn thị trường.

    Nếu ngân quỹ hay ALM đánh phí các đơn vị thương mại cao hơn lãi suất thị trường, nó sẽ khuyên khích việc đi vay từ thị trường và tạo ra những chướng ngại cho phát triển. Với danh mục đầu tư ngân hàng, vấn đề để xác định tham chiêu kinh tế là tìm ra chính xác chi phí cho vay và doanh thu từ thu thập tiền ký gửi. Với các hoạt động thị trường, vân đề là sử dụng một giá vốn phù hợp với thị trường để tránh ac-bít nội bộ của các đơn vị kinh doanh.

giá chuyển khoản




Giá chuyển khoản phải xử lý hai vấn đề:
• Chi phí chuyên tiền từ những đơn vị dư thừa sang những đơn vị thiêu hụt vốn nền là bao nhiêu
• Với danh mục đầu tư cho vay, chi phí tiêu chuẩn để cấp là gì để định giá?

       Trong trường hợp đầu tiên, giá chuyển khoản nên trung hòa, không phạt hay trợ cấp các đơn vị kinh doanh. Giá chuyển khoản kinh tế dùng để chuyển tiền và phân bố thu nhập. Nó cũng dùng để tìm ra việc định giá sai, là chênh lệch giữa giá thực và giá mục tiêu dựa trên rủi ro, để báo cáo và sửa sai.

      Trong thực tế có một vài quan niệm định giá, kết hợp những tiêu chí kinh tế và thương mại. Có thể phân biệt chúng trước khi gộp lại trong một khung thống nhất:

• Định giá dựa trên rủi ro là tiêu chuẩn và thuần túy mang tính kinh tế. Nó đòi hỏi hai thành phần cơ bản: chi phí vốn và mark-up (giá bổ sung). Mark-up với rủi ro tín dụng nên phân biệt lãi suất dành cho người đi vay. Nó dựa trên hê thông phân phối rủi ro tín dụng, phân bố chi phí vốn cho mỗi giao dịch, dựa trên những quy định và mô hình kinh tế về vốn kinh tế tín dụng. Chúng sẽ coi như sự phân phối vốn đó là có sẵn và chi tập trung vào chi phí kinh tế của vốn.

• Định giá thương mại nói tới mark-up và mark-down so với tiêu chuẩn kinh tế đơn thuần vì các mục đích chính sách kinh doanh, tạo ra động lực và hình phạt đế quảng bá một số sản phẩm. Những mark-up và mark-down đó hoàn toàn bị chi phối bởi kinh doanh thay vì mục tiêu lợi nhuận.

      Giá chuyển giao dùng để làm cơ sở cho trao đổi vốn nội bộ và xác định chi phí vốn “bao gồm tất cả”. Chi phí đó nên bao gồm chi phí hoạt động đế giá trị đóng góp đủ cao để hấp thụ chi phí hoạt động. Các giá dựa trên rủi ro cũng phải được cộng chi phí rủi ro khi cho vay. Để phân biệt chi phí bao gồm tất cả của vốn và giá chuyển khoản dùng để trao đổi tiền giữa các đơn vị, chúng ta gọi khái niệm thứ hai là “giá chuyển khoản thuần túy”. Chi phí vốn bao gồm tất cả dùng cho mục đích định giá, không phải để trao đổi vốn nội bộ.