Trong phần này, chúng tôi chỉ ra cách kết hợp những thước đo rủi ro khác nhau để định nghĩa VaR rủi ro thị trường trong trường họp bách phân vị của p & L (lợi nhuận và thua lỗ) của vị thế.
Hãy xem xét một tài sản phụ thuộc vào một nhân tố rủi ro duy nhất. Không có nhiều loại tài sản như vậy. Một ví dụ là trái phiếu không trái tức. Giá trị của nó chi phụ thuộc vào lãi suất ứng vào ngày đáo hạn của trái phiếu. Đối với những tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố rủi ro và danh mục đầu tư, chúng ta cần mở rộng hoàn toàn mô hình VaR, như trong mục 10 về rủi ro thị trường. Vị thế chỉ phụ thuộc một nhân tố rủi ro được gọi là “sơ cấp” vì không cần dùng đến những chi tiết phức tạp của những phép tính VaR và chúng ta có thế tập trung vào ba bước chính để rút ra VaR rủi ro thị trường.
     Ba bước kết hợp những thước đo rủi ro: độ nhạy và độ biến động để rút ra giá trị gặp rủi ro (VaR) – thước đo thua lỗ tiêm năng hay rủi ro sụt giá. VaR hay rủi ro sụt giá là thưúc đo rủi ro toàn diện nhất. Nó tích hợp cả độ nhạy và độ biến động với ảnh hưởng tiêu cực của sự không chắc chắn, nhưng cũng dựa vào giả định về phân phối giá trị. Ba bước chính cho một vị thế sơ cấp là: đo lường độ nhạy với nhân tố rủi ro, đo lường độ biến động của nhân tố rủi ro và kết hợp độ nhạy với độ biến động để tính toán ra độ biến động của vị thế. Xác định bách phân vị thua lỗ ở mức độ tin cậy a, dựa vào giả định về phân phổi giá trị.
     Bách phân vị thua lỗ ở a là VaR với mức độ tin cậy đó. Phần trình bày này bắt đầu với vị thế sơ cấp và sử dụng những giả định cơ bản. Nó sẽ được mở rộng để bao gồm nhiều nhân tố trong chương về VaR delta-chuẩn (chương 35). 

 rủi ro thị trường


Độ nhạy
     Độ nhạy đo lường phản ứng với một sự thay đổi trong tham số cơ sở ngẫu nhiên, hay những thay đổi trong nhân tố rủi ro.
     Độ nhạy không cố định và thay đổi khi điều kiện thị trường thay đổi. Chúng là những phép đo “cục bộ” và coi chúng là cố định chi là một phép xấp xi. Trái phiếu không trái tức dựa vào một nhân tố rủi ro duy nhất, lãi suất 2 năm vào thời điểm hiện tại t hay i(t,T) với t là ngày hiện tại và là kỳ hạn 2 năm. Ví dụ lãi suất là lãi suất không rủi ro. Giá trị của trái phiếu không trái tức không rủi ro với kỳ hạn 2 năm là giá trị chiết khấu của dòng tiền cuối cùng F(T): t là thời điểm hiện tại, T bằng 2 năm và sử dụng dòng tiền cuối cùng 100, giá trị trái phiếu không trái tức không rủi ro. Đạo hàm có thể được tính từ biểu thức dạng đóng. Trong trường hợp của trái phiếu, đây là duration. Duration của trái phiếu không trái tức bằng với kỳ hạn của nó T=2. Thay đổi giá trị ngẫu nhiên của trái phiếu không trái tức là hàm tuyên tính của những thay đổi ngẫu nhiên trong lãi suất.
Với B-90,703 và Ai =1%, giá trị tính bằng tiền của độ nhạy trái phiếu với thay đổi 100 điểm cơ sở của i là $1,81 hay 1,81% giá trị hiện tại.