Một số nhân tố giúp ổn định môi trường ngân hàng vào thập kỷ 70. Những quy định với các ngân hàng rất chặt chẽ. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư phải tách biệt. Ngân hàng thương mai nhận tiền và cho vay. Ngành công nghiệp ngân hàng thương mại bị chia nhỏ, chỉ được hoạt động ở cấp độ bang nhung không được sang các bang khác. Cạnh tranh hạn chế tạo ra lợi nhuận công bằng và ổn định. Luật giới hạn phạm vi hoạt động của các tài chính tín dụng và giới hạn rủi ro. Ở châu Âu, những luật này không được thực thi. Các ngân hàng lớn hoạt động toàn quốc trong thị trường vốn và hoạt động như ngân hàng thương mại là điều rất phổ biến.
    Làn sóng nới lỏng quản lý xảy ra mạnh mẽ ở Mỹ hơn ở châu Âu. Châu Âu lục địa vẫn tiếp tục những luật lệ khá bảo thủ trong khi nước Mỹ muốn nói lỏng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể do sự chia nhỏ thị trường. Việc nới lòng này cho phép nhiều người tham gia mới không có nhiều kinh nghiệm, làm tăng độ rủi ro của hệ thông. Việc tái quy định vào thập kỷ 80 có mục đích tạo ra bộ khung kết họp kiểm soát rủi ro và cạnh tranh lành mạnh.

những nhà làm luật


Luật và cạnh tranh

    Quá nhiều quy định làm cản trợ sự cạnh tranh. Những người bị giới hạn bởi quy định bị thiệt thòi so với những người khác. Các quy định giới hạn phạm vi hoạt động của ngân hàng thương mại, ảnh hưởng trực tiếp tói cạnh tranh tự do. Có rất nhiều ví dụ về mâu thuẫn này. Một ví dụ điển hình là cạnh tranh không công bằng giữa các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng bởi quy định cũ ở Mỹ, áp đặt trần lãi suất với tiền ký gửi và những ngân hàng đầu tư mòi chào những quỹ mang lại thu nhập là lãi suất thị trường. Điều đó lôi kéo nhiều người gửi tiền đến với các quỹ thay vì ký gửi ngân hàng. Lý do của quy định Q là để giới hạn chi phí vốn cho các ngân hàng. Nhưng nó không thể ngăn cản những đối tượng tham gia khác mời chào những sản phẩm hấp dẫn hơn cho những người gửi tiền.
   Cạnh tranh không công bằng xuất phát từ những quy định phi kinh tế cộng với cạnh tranh giữa những người tham gia thúc đẩy việc nới lỏng quản lý. Các rào cản ngày càng được dỡ bỏ. Thập kỷ 70 và 80 là giai đoạn của làn song thay đổi đầu tiên trong ngành công nghiệp. Những luật lệ cũ biến mất và tạo ra một khoảng trống.