Giá trị kinh tế và thu nhập lãi thực cho một ngân hàng không có vốn
       EV là thước đo kinh tế của hoạt dộng. Nếu giá trị tài sản cao hơn giá trị danh nghĩa, điều đó có nghĩa là thu nhập của chúng cao hơn lãi suất thị trường. Đây là một tình huống thông thường nêu các khoán vay có chênh lệch dương với lãi suất thị trường.       Nếu ngân hàng trả liên ký gứi kỳ hạn thấp hơn lãi suất thị trường, những khoản tiền ký quỹ đó có chi phí thấp hơn 13 lãi suất thị trường. Giá trị thị trường thấp hơn giá trị danh nghĩa. Điểu này tạo ra EV dương, vì tài sán cao hơn giá trị danh nghĩa và nợ thấp hơn giá trị danh nghĩa. Theo đó, E V tăng khi chênh lệch tín dụng tăng giữa lãi suất khách hàng và lãi suất thị trường, và NII cũng cải thiện. Chúng ta sẽ nghiên cứu quan hệ giữa giá trị kinh tế và NII thông qua một ví dụ.

Giá trị kinh tế



Bảng cân đối kế toán mẫu

       Lãi suất không rủi ro thị trường hiện tại là 5%. Nguồn vốn của ngân hàng là một khoản nợ một năm ờ lãi suất hiện tại 6% với chênh lệch 100 điểm cơ sở so với lãi suất không rủi ro 5%. Lãi suất này được cố định cho một kỳ và được đặt lại sau đó. Tài sản có kỳ hạn dài hơn nợ. Nó là một khoản vay trả một lần, kỳ hạn 3 năm với lãi suất cố định hợp đồng là 8%. Ngân hàng tính phí khách hàng lãi suất thị trường hiện tại cộng với chênh lệch 3% và trả chênh lệch 1% cao hơn lãi suất không rủi ro. Chú ý chúng ta bao gồm một chênh lệch tín dụng cho nguồn vốn ngân hàng, giả định là ngân hàng chỉ có khoản nợ tài chính và không có tiền ký gửi. Để đơn giản hóa, ta dùng một đường lãi suất phẳng. Thu nhập lãi thực không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi lãi suất chỉ trong năm đầu tiên vì lãi suất nọ sẽ được định lại sau một năm. Bảng cân đối kế toán được tóm tắt trong bảng 26.1. Cổ phần ngân hàng là 0. Giả định này sẽ được nới lỏng ở phần sau.
Dòng tiền từ tài sản và nợ được cố định từ những dữ liệu này

      Dòng tiền không giống như NII. Sự chênh lệch là trả nợ gốc. Ví dụ, hết năm 1, hai dòng tiền xảy ra: doanh thu lãi 80 từ tài sản và ngân hàng trả nợ gốc và lãi 1060. Thu nhập lãi thực chi phụ thuộc vào doanh thu và chi phí lãi bằng 80 – 60 = 20. Cho những năm tiếp theo, dự đoán NII đòi hỏi các giả định, vì khoản nợ sẽ được định lại cho năm thứ hai và ba. NII trong khoảng thời gian hơn một năm phù thuộc vào chi phí nợ, có thể thay đổi sau năm đầu tiên.
     Tổng khoảng then gian là kỳ hạn dài nhất, 3 năm. Để phỏng đoán Nợ quá một năm, ta cần gia hạn lại khoản nợ ở lãi suất thị trường hiện hành vào thời điểm gia hạn và dự đoán những thay đổi của NII với lãi suất. Dòng tiền hợp đồng của tài sản không thay đổi. Khoản nợ cần được gia hạn lại cho tới kỳ hạn dài nhất, với lãi suất hiện hành từ thời điểm 2 tới thời điểm 3. Giữ lãi suất không rủi ro 5% sau năm đẩu tiên, NII được dự đoán sử dụng lãi suất 5%. Bảng 26.3 cho thây dòng tiền và NII trong 3 năm.



0 nhận xét:

Đăng nhận xét