16:01:00

Giá dầu giảm sâu, thu thuế không đạt đủ, buồn nhưng không thể ngừng khai thác thêm vì đã có dự toán, kể cả mở bể than đồng bằng sông Hồng.



Ông Nguyễn Văn Phụng – Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế) chia sẻ quanh việc giá dầu giảm.
“Nói chung giá dầu thô giảm là buồn”, ông Phụng nói.
Theo số liệu của Tổng cục thuế (Bộ Tài chính) cho biết,  thu NSNN từ dầu thô chỉ đạt 10,6% dự toán, tương đương 5,77 nghìn tỷ đồng. Con số này chỉ bằng 43,1% so với cùng kỳ năm 2015.
Số thu từ dầu thô trên cơ sở giá dầu thanh toán bình quân 2 tháng ở mức giá 36 USD/thùng, giảm 24 USD/thùng so với giá dự toán.
Buon van phai muc dau, ram rich mo be than song Hong
Ông Nguyễn Văn Phụng, giá dầu thô giảm sâu, buồn những vẫn phải múc dầu.
Phân tích về chuyện “giá dầu thô giảm sâu sao cứ “múc” dầu mãi?”, ông Phụng cho rằng, việc lập dự toán đã có quy định rồi, đây là định hướng dự báo trong điều hành nên vẫn phải lập để điều hành thu – chi cả năm. Lúc xây dựng dự toán ngân sách, việc lấy giá dầu bao nhiêu đã được cân nhắc dựa trên số liệu báo cáo của các tổ chức dự báo uy tín thế giới và được sự thẩm tra của các Ủy ban của Quốc hội.
“Giá dầu thô diễn biến quá phức tạp. Năm ngoái khi xây dựng dự toán đưa ra dầu vào là 100 USD/thùng, thì ngay lập tức giảm xuống còn 50 USD/thùng. Còn năm nay khi vừa đưa ra dự toán 60 USD/thùng, giá dầu lập tức giảm còn một nửa...”- ông Phụng thừa nhận.
Theo tính toán của ngành thuế, nếu kịch bản giá dầu giảm sâu xuống mức 20 USD/thùng thì ngân sách thất thu khoảng 1.500 tỷ đồng. Dù vậy, vẫn không thể bỏ dầu thô ra khỏi dự toán và đóng mỏ dầu khi giá xuống quá thấp.
Lý giải điều này, ông Nguyễn Văn Phụng chia sẻ, nếu đóng mỏ dầu ngừng khai thác DN sẽ phải chịu thiệt hại lớn về chi phí khi hoạt động khai thác trở lại.
"Các nhà đầu tư phải cân nhắc tới điểm nào giảm trữ lượng, tới điểm nào giữ nguyên mức đó. Nhiều khi giá bán dưới giá thành một chút vẫn phải giữ vì phải tính tới chi phí khôi phục mỏ sau này. Nhiều khi doanh nghiệp chấp nhận lỗ vận hành để đỡ lỗ trong tương lai", ông thẳng thắn nói.
Thực tế, vấn đề này đã được quy định trong hợp đồng và các nhà đầu tư sẽ tự cân nhắc thời điểm nào giảm trữ lượng hay không. Như vậy, Nhà nước sẽ không bù lỗ khi giá dầu xuống thấp.
Tuy nhiên, theo ông Phụng, tác động của giá dầu thô giảm có cả 2 mặt, trực tiếp và gián tiếp. Dầu thô liên quan tới nguyên liệu đầu vào của nền kinh tế, nên giá dầu giảm không hẳn chỉ có tác động tiêu cực. Năm rồi, trong khi giá dầu thô giảm, ngân sách trung ương “kẹt” thì ngân sách địa phương lại “xông xênh”, do tích lũy doanh nghiệp tăng lên.
Trước đó, bể than sông Hồng nằm trong quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến 2020, triển vọng 2030 sẽ được đầu tư một số dự án thử nghiệm theo phương pháp khai thác hầm lò và công nghệ khí hóa than ngầm tại các khu vực đã được thăm dò.
Cũng để nâng cao chất lượng than sạch, các nhà máy sàng tuyển, chế biến than sẽ được phát triển theo hướng giảm dần các cụm sàng tuyển nhỏ lẻ để hình thành các khu sàng tuyển tập trung, đồng bộ.
Buon van phai muc dau, ram rich mo be than song Hong
Mỏ than đồng bằng sông Hồng được đưa vào quy hoạch. Ảnh minh họa
Từ nay tới năm 2020 sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng mới các nhà máy tuyển than gồm Vàng Danh 2 (công suất khoảng 2 triệu tấn/năm); Khe Thần (công suất khoảng 2,5 triệu tấn/năm); Hòn Gai (công suất khoảng 5 triệu tấn/năm, xây dựng mới modul 1 công suất 2,5 triệu tấn/năm tại Phường Hà Khánh và duy trì nhà máy Nam Cầu Trắng đến hết năm 2018, sau đó lắp đặt modul 2 công suất 2,5 triệu tấn/năm); Khe Chàm (công suất khoảng 7 triệu tấn/năm); Lép Mỹ (công suất khoảng 4 triệu tấn/năm).
Giai đoạn 2021- 2030, đầu tư cải tạo mở rộng, nâng công suất nhà máy sàng - tuyển Khe Thần từ 2,5 triệu tấn/năm lên khoảng 5 triệu tấn/năm.
Theo Quyết định 403/QĐ-TTg về điều chỉnh quy hoạch ngành than tới năm 2020, có xét tới năm 2030, nhu cầu vốn đầu tư của ngành than tới năm 2030 là hơn 269.000 tỷ đồng, tức là bình quân đạt gần 18.000 tỷ đồng/năm. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư mới và mở rộng ước tính là 235.906 tỷ đồng.
Quyết định 403/QĐ-TTg cũng điểm danh cụ thể các dự án cần đầu tư, mở rộng. Theo đó, giai đoạn đến năm 2020, đầu tư cải tạo mở rộng, nâng công suất 9 dự án mỏ (Cẩm Phả 4 dự án, Hòn Gai 4 dự án, Uông Bí 1 dự án); đầu tư xây mới 41 dự án mỏ (Cẩm Phả 17 dự án, Hòn Gai 7 dự án, Uông Bí 17 dự án).
Đầu tư cải tạo mở rộng các dự án mỏ lộ thiên hiện có theo hướng đổi mới thiết bị, công nghệ tiên tiến, đồng bộ để gia tăng sản lượng khai thác; đầu tư dự án mở rộng nâng công suất mỏ than Na Dương.


Theo báo đất việt