Các quy định giảm thiểu rủi ro tín dụng giống nhau với mọi cách tiếp cận và bao gồm một số lựa chọn. Các công cụ giảm thiểu rủi ro tín dụng được gọi là CRM theo thuật ngữ Basel 2. CRM nói về những đặc điểm của từng giao dịch có thể làm giảm rủi ro tín dụng của giao dịch đó. Những đảm bảo hợp lệ bao gồm:
  • Thế chấp hợp lệ: tiền mặt, cổ phiếu

  • Đảm bảo của bên thứ ba

  • Phái sinh tín dụng
        Các cách tiếp cận khác nhau:
  • Tiêu chuẩn: trọng số rủi ro tiêu chuẩn

  • Cơ sở: tỷ lệ phục hồi tiêu chuẩn là 55% với nợ cao cảp và 25% với nợ cảp thấp

  • Cao cảp: tỷ lệ hồi phục được ngân hàng quyết định
        Các quy định áp đặt những tiêu chuẩn hoạt động tối thiều bời VI quản lý yếu kém những rủi ro hoạt động bao gồm rủi ro pháp lý có thể làm giảm độ tin cậy của những công cụ giảm rủi ro đó. Để việc giảm thiểu rủi ro được công nhận cần phải đáp ứng một số tiêu chuẩn: giao dịch phải được ghi chép đầy đủ, các đảm bảo và phái sinh tín dụng phải mang tính ràng buộc và có thể thi hành pháp lý. Hơn nữa, các ngân hàng phải nắm giữ tài sản để đối phó với những rủi ro do sự chênh lệch giữa phòng hộ rủi ro tín dụng nguy cơ tương ứng. Đó có thể là chênh lệch trong giá trị, kỳ hạn hay tiền tệ giữa nguy cơ và công cụ phòng hộ.

Giảm thiểu rủi ro tín dụng


          Giảm rủi ro tín dụng: đảm bảo và phái sinh tín dụng

       Đế một ngân hàng có thể được cứu trợ bằng phái sinh tín dụng hay đảm bảo, phòng hộ tín dụng phải trực tiếp, rõ ràng, không thể hủy bỏ và vô điều kiện.

       Cách tiếp cận thay thế trong Hiệp Ước 1988 áp dụng với đảm bảo và phái sinh tín dụng nhưng có một sàn vốn IV. Nêu công nhận hoàn toàn khả năng thực thi của đảm bảo, cách tiếp cận này thay thếrủi ro của người đi vay bằng thay thế của người đảm bảo.

       Hiệp Ước mới công nhận rằng các ngân hàng chỉ chịu thua lỗ trong các giao dịch được đảm bảo khi cả người đi vay và người đảm bảo đều vỡ nợ. Cách tiếp cận “vỡ nợ kép” này làm giảm rủi ro tín dụng nêu sự tương quan giữa xác suất vỡ nợ của người mang nợ và người đảm bảo là thấp.

         Giảm rủi ro tín dụng: xử lý thế chấp

       Những quy định CRM đối với thế chấp phức tạp hơn đối với đảm bảo bên thứ ba bởi vì một nguy cơ được chia thành phần có thế chấp và phần còn lại. Hơn nửa, sự phân tách này phụ thuộc vào haircuts để đo lường số lượng được thế chấp quá cao. Phép tính haircuts bị chi phối bởi một số quy tắc. Cuối cùng, trọng số rủi ro và LGD cho phần có thế chấp khác với cho phần không có thế chấp.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét