Có một sự đánh đổi giữa chấp nhận rủi ro và kiểm soát rủi ro. Vốn có sẵn đặt ra một giới hạn cho việc chấp nhận rủi ro, do đó giới hạn khả năng phát triển kinh doanh. Vốn có sẵn có thể không đủ để xây dựng những bước phát triển kinh doanh mới. Điều này đúng với mô hình “cho vay và nắm giữ” của các ngân hàng.

      Giới hạn vốn có thể đòi hỏi huy động thêm cổ phần, hoặc thanh lý tài sản hoặc giảm rủi ro. Tăng vốn có nghĩa là lợi nhuận của cổ đông sẽ phù hợp với kỳ vọng của họ. Hơn nữa, khi tăng trưởng vốn chỉ dựa vào thu nhập giữ lại, lợi nhuận phải đủ cao để cơ sở vốn tăng trưởng kịp với những yếu cầu luật pháp. Hai giới hạn này khác nhau.

Vốn dựa trên rủi ro


       Mức thu nhập yếu cầu tối thiểu thông thường cho các cổ đông là thu nhập kế toán trên cổ phần (ROE) 15% sau thuế tức là khoảng 25% trước thuế. Nếu những nguồn vốn bên ngoài không được huy động, tăng trưởng bền vững sẽ bị giới hạn. ROE bằng với tốc độ tăng trưởng của vốn nếu không phải trả cổ tức. Do đó, sự tăng trưởng vượt trên ROE là không thể duy trì khi cấp vốn chỉ thông qua thu nhập được giữ lại. Do đó, hệ quả đầu tiên của yêu cầu vốn là ROE giới hạn tăng trưởng của ngân hàng khi họ chỉ dựa vào thu nhập được giữ lại. Hệ quả thứ hai là vốn phải đủ để cung cấp thu nhập yếu cẩu cho những ngưòi nắm giữ cổ phần. Đôi khi, tăng trưởng của ngân hàng là quá cao để có thể duy trì nếu tính đến những yếu cầu vốn. Thu nhập yêu cầu cho những cổ đông là giới hạn “hiệu quả”, trong khi tăng trưởng vốn nội bộ thì không.

        Lựa chọn duy nhất để tránh khỏi những giới hạn về vốn là thanh lý tài sản hoặc giảm rủi ro. Việc bán tài sản hoặc chứng khoán hóa phục vụ cho mục đích này. Với sự mở rộng của chứng khoán hóa và sự hình thành mô hình “phát hành nợ thế chấp và phân phối” của các ngân hàng, họ có thể đi vòng qua những giới hạn đó, tự do hóa vốn bằng cách bán những khoản nợ của họ và những tài sản khác vào thị trường vốn, và mở rộng kinh doanh trong khi vẫn tuân thủ những quy định về vốn.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét