18:49:00


Trong 5 năm qua đã có một nguồn lực 12,4%GDP đã tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu. Có 15 tỷ USD xuất phát từ dự phòng rủi ro, từ thu nợ, cấn trừ nợ hệ thống ngân hàng. Cộng với 10 tỷ USD đã chuyển cho VAMC, nghĩa là đã có 25 tỷ USD nợ xấu đã được đưa vào xử lý.
Ông Trương Văn Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia khẳng định, đây là một con số rất thực, không hề giả tạo chút nào, nằm trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, đã được kiểm toán.
Tuy nhiên,  Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng, mặc dù đã xác định và nhận diện được vấn đề nhưng trong 5 năm vừa qua, việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng vẫn chủ yếu mang tính định tính chứ ít có tính định lượng.
Cụ thể, VAMC chỉ là một giải pháp nửa vời, không triệt để. “Tôi đã nói từ trước khi tổ chức này ra đời, rằng VAMC là một cục sâm để các tổ chức tín dụng ngậm từ nhà ra bệnh viện. Đằng nào thì cũng phải có “bệnh viện” để xử lý nợ xấu đó cho các ngân hàng”, ông Phước đánh giá.
Chúng ta cũng không thể xử lý nợ xấu bằng những câu khẩu hiệu suông. Và cũng không nên tiếp cận vấn đề này theo hướng sử dụng ngân sách xử lý nợ xấu là lấy tiền của người nghèo chia cho người giàu
Chúng ta cũng không thể xử lý nợ xấu bằng những câu khẩu hiệu suông. Và cũng không nên tiếp cận vấn đề này theo hướng sử dụng ngân sách xử lý nợ xấu là lấy tiền của người nghèo chia cho người giàu

Do đó, tái cơ cấu giai đoạn 2 này bao gồm cả xử lý 10 tỷ USD đang nằm tại VAMC. Tiếp theo cũng gần bằng chừng đó nợ xấu phát sinh. Vậy làm sao xử lý, nguồn lực từ đâu?
Vì vậy, khi nói đến tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2016-2020, ông Phước khẳng định, ông nghiêng về chương trình hành động, các giải pháp hành động. Và muốn tái cơ cấu thành công thì trước hết phải xử lý được vấn đề “quan điểm” và “kỹ thuật”.
Ông Phước nêu hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng không nên tái cơ cấu ngân hàng để cho những người gây nên nợ xấu tự xử lý.
Nhưng nếu đặt ra quan điểm đó thì nền kinh tế sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro. Đó là lãi suất cho vay tăng cao hơn.
Lạm phát chưa đến 1% nhưng lãi suất cho vay 9-10%. Đó chính là hệ quả trực diện của nợ xấu.
Ngoài ra, tỉ lệ sinh lời trên vốn sở hữu của hệ thống ngân hàng trong năm năm gần đây giảm đi ba lần từ 12% còn 4%, còn tỉ lệ sinh lời trên tài sản từ 1,2 còn 0,4%.
Chính những điều đó sẽ lan tỏa sang chi phí vốn làm cho nền kinh tế phải chấp nhận chi phí vốn rất cao.
Vì vậy, theo ông Phước, cần thiết phải xử lý nợ xấu, phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, không phải vì một vài cổ đông, vì một số lãnh đạo ngân hàng mà vì lợi ích chung của cả nền kinh tế.
“Chúng ta cũng không thể xử lý nợ xấu bằng những câu khẩu hiệu suông. Và cũng không nên tiếp cận vấn đề này theo hướng sử dụng ngân sách xử lý nợ xấu là lấy tiền của người nghèo chia cho người giàu. Tôi cho rằng, tiếp cận vấn đề theo quan điểm này là rất nguy hiểm”, ông Phước nhận định. Theo ông, đây là một vấn đề rất kỹ thuật trong xử lý nợ xấu, tái cơ cấu nền kinh tế.
Cũng theo ông Trương Văn Phước, để xử lý nợ xấu và tái cơ cấu thành công thì Ngân hàng Nhà nước không thể đơn thương độc mã mà làm được.
Hiện tại việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu đang là công việc và nhiệm vụ chung của cả xã hội, rất mông lung, không mang dấu ấn trách nhiệm cá nhân nên nếu làm tốt không ai hoan nghênh, làm không hiệu quả thì cũng không ai chết. Do đó, cùng với nhiều chuyên gia khác, ông Trương Văn Phước đề nghị, cần phải có một ban chỉ đạo cấp Nhà nước về tái cơ cấu, một ủy ban Nhà nước có một địa vị pháp lý cao.

Theo thoibaokinhdoanh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét