Có hai điểm đáng lưu ý trong sản xuất công nghiệp của Việt Nam năm 2016 là sự sụt giảm mạnh của ngành khai khoáng và sự duy trì tích cực trong tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Liệu có dễ dàng để đạt được mục tiêu là chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2017 tăng khoảng 8% so với năm trước?
Theo Bộ Công Thương, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2016 chỉ tăng 7,5%. Mức tăng này được cho là thấp hơn so với mức tăng 9,8% của cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng năm vừa qua đã giảm sâu ở mức 5,9%, làm giảm 1,3 điểm phần trăm trong mức tăng chỉ số IIP chung. Đây cũng là ngành duy nhất có chỉ số IIP giảm so với cùng kỳ năm 2015, chủ yếu do giá dầu thô giảm, dẫn đến sản lượng dầu thô khai thác giảm mạnh (năm 2016, giảm 8,1%, trong khi đó cùng kỳ năm 2015 tăng 7,8%).
Thách thức dài hạn
Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế thì chỉ số IIP của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2016 đã duy trì được ở mức 11,2% (đây là mức thậm chí còn cao hơn mức tăng của năm 2015 là 10,5%) và đóng góp 7,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp.
Thực tế, nếu nhìn lại năm 2016 có thể thấy một số ngành công nghiệp lớn của ta đang gặp phải những vấn đề khó khăn và thách thức mang tính chiến lược và dài hạn.
Đơn cử như ngành dầu khí, cơ bản đã đạt tới ngưỡng khai thác ở trong nước. Gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2016 tuy đạt kế hoạch đề ra (đạt 16,66 triệu tấn dầu quy đổi/kế hoạch là 16-20 triệu tấn dầu quy đổi) nhưng đây là mức thấp nhất so với nhiều năm gần đây.
Sản lượng khai thác dầu thô đã đi theo chiều hướng đổ dốc, khi năm 2015, khai thác dầu thô trong nước đạt 16,88 triệu tấn, đến năm 2016 là 15,17 triệu tấn, còn kế hoạch năm 2017 chỉ là 12,28 triệu tấn.
Trong những năm tới, sản lượng khai thác sẽ có xu hướng phải giảm dần do trữ lượng có hạn, khả năng tìm kiếm, thăm dò để nâng cao trữ lượng ngày càng khó khăn. Việc mở rộng các dự án tìm kiếm, thăm dò và khai thác ở nước ngoài đang gặp phải những thách thức lớn.
Ngành dầu khí cơ bản đã đạt tới ngưỡng khai thác ở trong nước

Theo phân tích của công ty chứng khoán Vietcombanksc (VCBSC), kịch bản giá dầu thô thế giới duy trì ổn định trên mức 50 USD/thùng sẽ là điều kiện tốt để các doanh nghiệp ngành dầu khí mở rộng hoạt động trở lại sau thời gian dài khá trầm lắng.
Đối với nhóm ngành công nghiệp chủ lực khác như phân bón, hoá chất, than, khoáng sản, VCBSC cho rằng đây là nhóm ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất từ biến động giá cả hàng hoá. Trong đó, đặc biệt là các nhóm ngành có mối tương quan lớn đối với giá dầu thô.
Với lĩnh vực sản xuất phân bón, sản lượng phân đạm urê giảm 13,3% và chỉ đạt 86,5% so với kế hoạch đề ra, ở mức 1.992,7 nghìn tấn; phân NPK giảm 10,5% và chỉ đạt 65,5% so với kế hoạch đề ra với khoảng 2.228,1 nghìn tấn.
Cần gỡ “điểm nghẽn”
Bộ Công Thương lưu ý ngành phân bón còn tồn tại ba hạn chế lớn, trong đó phần lớn lại chủ yếu xuất phát từ phía chủ quan cần được xử lý. Đó là tình trạng buôn lậu, kinh doanh phân bón giả; một số dự án lớn, trọng điểm của ngành hoạt động thua lỗ, kém hiệu quả; nhu cầu sử dụng phân bón truyền thống tiếp tục xu hướng giảm.
Do vậy, nếu không thực sự có những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt sẽ khó có thể đưa ngành phân bón trong nước phát triển bền vững trong thời gian tới. Đối với ngành than, sản xuất tiếp tục khó khăn, lượng than sạch sản xuất cả năm ước đạt 39,6 triệu tấn, giảm 3,1% so với năm 2015 và bằng 94,3% kế hoạch năm.
Như nhận định của Bộ Công Thương, mặc dù có trữ lượng lớn, nhưng hạn chế lớn nhất của ngành là điều kiện khai thác mỏ ngày càng xuống sâu và đi xa hơn, làm cho giá thành sản xuất than tiếp tục có xu hướng tăng.
Trong khi đó, vấn đề đổi mới quản trị và công nghệ vẫn là hạn chế và là đòi hỏi có tính căn bản trong phát triển của ngành. Nếu không thực sự có những bước tái cơ cấu mạnh mẽ và hiệu quả trong thời gian tới sẽ là lực cản lớn cho phát triển của ngành than trong dài hạn.
Hoặc như ngành thép, sản xuất sắt thép năm 2016 tăng trưởng cao, tuy nhiên vẫn chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu sắt thép nội địa và tiếp tục là ngành nhập siêu lớn.
Với ngành cơ khí và công nghiệp hỗ trợ, giới chuyên gia cho rằng nhìn chung tới nay vẫn chưa có những giải pháp mang tính đột phá để tạo bước ngoặt cho phát triển của nhóm ngành có ý nghĩa hết sức quan trọng này.
Nhiều cơ chế, chính sách đã được nghiên cứu ban hành nhưng hiệu quả thực thi trên thực tế chưa thực sự rõ ràng. Đây là điểm nghẽn lớn, tồn tại nhiều năm qua cần được tháo gỡ để tạo động lực thúc đẩy cho phát triển sản xuất công nghiệp của cả nước những năm tới đây.
Nhóm công nghiệp chế biến là nhóm hàng chủ đạo, chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nhóm hàng này luôn duy trì được mức tăng trưởng tương đối đều, bình quân 8,5% cho từng quý.
Tuy nhiên do một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhóm như dệt may, da giày, điện thoại và linh kiện, linh kiện điện tử… có tốc độ tăng thấp hơn so với cùng kỳ đã khiến cho kim ngạch xuất khẩu của nhóm giảm mạnh.
Tựu trung, những hạn chế, yếu kém trong nội tại của từng ngành công nghiệp chủ lực đã tiếp tục bộc lộ và càng rõ nét hơn trước những thách thức của quá trình hội nhập.
Vấn đề có ý nghĩa lâu dài là cần sớm tháo gỡ những “điểm nghẽn”, khắc phục, xử lý những yếu kém này trong năm 2017 và các năm tới.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét