Hợp đồng Tương lai (HĐTL) là một sản phẩm được phát triển từ Hợp đồng Kỳ hạn (HĐKH). Về cơ bản, HĐKH và HĐTL là một hợp đồng thỏa thuận giữa 02 bên, theo đó, 02 bên sẽ thực hiện mua bán một/nhiều loại tài sản cơ sở nhất định với một mức giá và thời điểm thanh toán được thỏa thuận vào thời điểm lập hợp đồng. HĐKH là một hợp đồng có tính song phương, được lập lên trên cơ sở tự thỏa thuận giữa 02 bên hợp đồng. Hiếm có 2 HĐKH nào có tất cả nội dung điều khoản trong hợp đồng giống hệt nhau. Với tính chất song phương như vậy, HĐKH có 02 nhược điểm chính:


 (1) sau khi tham gia hợp đồng, nếu nhà đầu tư có ý định thoát khỏi các quyền lợi/nghĩa vụ với đối tác, nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bên thứ 3 để chuyển giao hợp đồng; (2) nhà đầu tư sẽ phải hứng chịu toàn bộ rủi ro trong trường hợp đối tác của hợp đồng không thực hiện các nghĩa vụ đã được quy định tại hợp đồng. Việc tham gia hợp đồng có thể đi kèm với các khoản chi phí không nhỏ liên quan đến việc giám sát nghĩa vụ hoặc trách nhiệm pháp lý khi đối tác không thực hiện hợp đồng.


HĐKH là một loại CKPS có lịch sử phát triển lâu đời và được nhiều đối tượng sử dụng làm công cụ phòng hộ rủi ro.


Tuy nhiên, trước nhu cầu của thị trường, sản phẩm HĐTL đã được ra đời để khắc phục các nhược điểm trên của HĐKH với những đặc điểm chính sau:


•Hợp đồng tương lai, khác với Hợp đồng kỳ hạn, đã được chuẩn hóa về các điều khoản trong hợp đồng bởi tổ chức quản lý thị trường là Sở Giao dịch Chứng khoán. Các điều khoản được chuẩn hóa sẽ được quy định tại Mẫu hợp đồng và bao gồm những điều khoản cụ thể về việc giao dịch và thanh toán của các bên. Nội dung này sẽ được giải thích kỹ hơn ở phần sau.


•Do được chuẩn hóa và đảm bảo tính đồng nhất của hợp đồng, các bên của Hợp đồng có thể dễ dàng giao
dịch Hợp đồng Tương lai trên thị trường tập trung theo nguyên tắc tương tự như giao dịch chứng khoán cơ
sở. Việc tham gia vào một hợp đồng mới hoặc thoát khỏi một hợp đồng có thể được thực hiện thông qua hoạt động giao dịch mua/bán hợp đồng trên thị trường.



• Do được giao dịch liên tục trên thị trường, nên giá của Hợp đồng Tương lai biến động liên tục tương tự như giá của chứng khoán tại thị trường cơ sở. Khi giá của Hợp đồng Tương lai biến động, giá trị khoản đầu tư của nhà đầu tư vào hợp đồng sẽ biến động và ghi nhận lãi trong trường hợp giá biến động theo chiều hướng có lợi hoặc ghi nhận lỗ trong trường hợp ngược lại. Việc ghi nhận lãi/lỗ này sẽ được thực hiện hằng ngày và được gọi là hạch toán hằng ngày.


•Để giảm thiểu rủi ro trong việc một bên mất khả năng thanh toán gây ảnh hưởng tới đối tác trong hợp đồng,
việc thanh toán sẽ được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là Trung tâm Thanh toán Bù trừ (TTTTBT). Nếu sử dụng cơ chế Thanh toán Bù trừ Trung tâm (CCP) thì Trung tâm thanh toán bù trừ sẽ là Bên Mua của mọi Bên Bán và Bên Bán của mọi Bên Mua của Hợp đồng. Cơ chế này đảm bảo một bên của hợp đồng sẽ vẫn nhận được tiền/tài sản trong trường hợp đối tác trong hợp đồng không có khả năng thanh toán theo nghĩa vụ đã quy định.


• Nhà đầu tư phải nộp ký quỹ trước khi tham gia giao dịch và phải duy trì khoản ký quỹ này theo các mức do TTTTBT quy định: để đảm bảo tính toàn cho thị trường, TTTTBT yêu cầu tất cả nhà đầu tư tham gia mua
hoặc/và bán hợp đồng phải nộp một khoản ký quỹ được gọi là Ký quỹ ban đầu cho TTTTBT, khi giá của hợp đồng tương lai biến động thì giá trị khoản ký quỹ này cũng sẽ biến động theo. Khi khoản ký quỹ này xuống thấp hơn mức kỹ quỹ được gọi là Ký quỹ duy trì, thì nhà đầu tư phải bổ sung tiền/tài sản để tăng giá trị ký quỹ bằng tối thiểu mức Ký quỹ ban đầu.


Thế nào là mua hợp đồng tương lai? Thế nào là bán hợp đồng tương lai?


Hợp đồng Tương lai sẽ luôn luôn tồn tại 02 bên của Hợp đồng là: Bên Mua và Bên Bán Hợp đồng. Nhà đầu tư được


coi là Bên Mua (hay còn được gọi là tham gia vị thế mua) hoặc Bên Bán (tham gia vị thế bán) của hợp đồng khi nhà đầu


tư đó đặt lệnh mua/bán hợp đồng trên thị trường và được khớp với lệnh đối ứng trên cơ sở về giá và khối lượng. Nếu


nhà đầu tư có nhu cầu mua tài sản cơ sở, hoặc/và kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ tăng trong tương lai, thì nhà đầu tư


sẽ tham gia mua Hợp đồng; ngược lại, nếu nhà đầu tư có nhu cầu bán tài sản cơ sở hoặc/và kỳ vọng giá của tài sản cơ


sở sẽ giảm trong tương lai, thì nhà đầu tư sẽ tham gia bán hợp đồng.


HĐTL chỉ được hình thành khi lệnh mua và lệnh bán hợp đồng được khớp trên thị trường giao dịch. Khi HĐ được


hình thành, TTTTBT sẽ bắt đầu thực hiện thanh toán bù trừ cho hợp đồng đó theo cơ chế Đối tác Bù trừ Trung tâm (sẽ


được giải thích ở nội dung sau). Theo đó, vào cuối ngày giao dịch, dựa vào các giá thanh toán hằng ngày và giá mà nhà


đầu tư đã mua/bán hợp đồng, TTTTBT sẽ tính toán lãi/lỗ của vị thế mà nhà đầu tư nắm giữ và thực hiện chuyển giao tiền


từ bên lỗ cho bên lãi. Hoạt động này được gọi là Hạch toán hằng ngày và được diễn ra trong suốt quá trình nhà đầu tư


tham gia hợp đồng.


Đối với trường hợp HĐTL thanh toán bằng hình thức chuyển giao vật chất, thì vào ngày thanh toán cuối cùng, tất cả


các hợp đồng còn tồn tại cho đến thời điểm cuối cùng thì sẽ được thanh toán bằng việc bên Mua và bên Bán chuyển giao


tiền và tài sản theo quy định của TTTTBT.




Thế nào là mẫu hợp đồng?


Mẫu hợp đồng, về cơ bản, là một dạng hợp đồng chuẩn, theo đó sẽ quy định các điều khoản về nghĩa vụ/quyền lợi


của tất cả nhà đầu tư tham gia vào hợp đồng này. Mục đích của việc có một hợp đồng chuẩn là để nhà đầu tư có thể dễ


dàng giao dịch hợp đồng (bao gồm mở hợp đồng mới hoặc thoát khỏi hợp đồng đã mở) một cách dễ dàng và ít tốn kém.


Nội dung mẫu hợp đồng của HĐTL thông thường sẽ quy định:





Loại tài sản cơ sở được dùng để xác định giá hợp đồng và để chuyển giao (trong trường hợp chuyển giao vật


chất)





Thời điểm đáo hạn của hợp đồng (tháng đáo hạn, ngày đáo hạn/ngày giao dịch cuối cùng, ngày thanh toán


cuối cùng): một hợp đồng có thể có nhiều tháng đáo hạn khác nhau để nhà đầu tư lựa chọn mua/bán. Tất cả


các hợp đồng sẽ đáo hạn vào một ngày nhất định trong tháng đáo hạn của hợp đồng. Sau ngày đáo hạn, hợp


đồng đó được hủy niêm yết và nhà đầu tư sẽ hoàn tất nghĩa vụ thanh toán vào ngày thanh toán cuối cùng.





Giá trị hợp đồng/hệ số nhân: giá trị bằng tiền của một hợp đồng tương lai. Giá trị/Quy mô hợp đồng được xác


định bằng giá của hợp đồng * hệ số nhân của hợp đồng.





Nguyên tắc giao dịch (bước giá, giá tham chiếu, giới hạn giá, phiên giao dịch,v.v…): quy định các nguyên tắc


về giao dịch hợp đồng mà nhà đầu tư phải tuân thủ khi tham gia mua/bán hợp đồng trên thị trường.





Nguyên tắc thanh toán bù trừ (giá thanh toán, phương thức thanh toán, tài sản chuyển giao, mức ký quỹ, giới


hạn vị thế, v.v…) quy định các nguyên tắc thanh toán bù trừ mà nhà đầu tư phải tuân thủ: mức ký quỹ là giá trị


tiền hoặc/và tài sản mà nhà đầu tư phải nộp trước khi và trong suốt quá trình tham gia hợp đồng.





Giá thanh toán (hằng ngày, cuối cùng) là các loại giá được tính vào cuối ngày giao dịch được dùng để xác


định lãi/lỗ trên từng vị thế của nhà đầu tư.


•Phương thức thanh toán: Hợp đồng có thể thanh toán bằng 02 hình thức: tiền hoặc/và chuyển giao vật chất.


•Tài sản chuyển giao là những loại tài sản được chấp thuận để chuyển giao khi thanh toán hợp đồng (nếu HĐTL


được thanh toán bằng hình thức chuyển giao vật chất).


•Giới hạn vị thế là tổng số lượng vị thế trên 1 loại hợp đồng mà nhà đầu tư được phép nắm giữ trong suốt quá trình tham gia hợp đồng.


Mẫu hợp đồng sẽ được Sở GDCK và TTTTBT công bố trước thời điểm niêm yết hợp đồng đầu tiên. Sau đó, Sở


GDCK và TTTTBT có thể điều chỉnh một số điều khoản trong mẫu hợp đồng để phù hợp với điều kiện thị trường. Việc điều chỉnh mẫu hợp đồng sẽ được các đơn vị trên công bố trước thời gian thực hiện điều chỉnh.