Chứng khoán phái sinh, như thể hiện ở tên gọi của nó, là công cụ được sinh ra từ một sản phẩm tài chính hoặc loại hàng hóa nào đó – được gọi là tài sản cơ sở (hay tài sản gốc), và giá trị của chứng khoán phái sinh được xác định dựa vào giá trị của chính tài sản cơ sở. Chứng khoán phái sinh không thể tồn tại một cách tự thân mà luôn phải gắn liền với “một tài sản cơ sở nào đó” – một khoản vay, một hàng hóa cơ bản, một cổ phiếu được niêm yết, một loại lãi suất, một đơn vị tiền tệ....



Được thiết kế dưới dạng hợp đồng tài chính, chứng khoán phái sinh ra đời trước tiên nhằm mục đích giúp các nhà đầu tư nói riêng và các đối tượng có nhu cầu nói chung tối thiểu hóa rủi ro. Yếu tố rủi ro được nói đến ở đây chủ yếu là rủi ro thị trường, hay là rủi ro do biến động giá trên thị trường gây ra. Khái niệm giá cũng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm từ giá cả hàng hóa vật chất, đến giá của những tài sản tài chính như giá cổ phiếu, lãi suất, tỷ giá.

Mặc dù sự phát triển mạnh mẽ vượt bậc của chứng khoán phái sinh chỉ thực sự diễn ra vào nửa cuối thế kỷ 20, song công cụ tài chính này đã xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử loài người, dù rằng những dạng thức tồn tại đầu tiên của nó là khá thô sơ. Người ta đã tìm thấy dấu vết của những giao dịch mang dáng dấp của hợp đồng kỳ hạn từ thời Hy Lạp cổ đại, rồi sau đó ở thời kỳ Trung cổ tại Châu Âu. Đến những năm 1690, thị trường gạo Dojima ra đời ở Nhật Bản, đánh dấu sự hình thành thị trường hợp đồng tương lai đầu tiên trên thế giới.

Từ những công cụ đơn giản được tạo ra ngay ở thời kỳ đầu mới xuất hiện thị trường, chứng khoán phái sinh dần trở nên đa dạng hơn, mang những đặc điểm ngày càng phức tạp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người sử dụng. Ngày nay, người ta có thể lựa chọn công cụ thích hợp nhất với mình từ rất nhiều loại chứng khoán phái sinh khác nhau, bao gồm từ hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợp đồng tương lai (futures), hợp đồng quyền chọn (options), hợp đồng hoán đổi (swaps); cho đến những công cụ lai ghép (hybrid) được tạo ra từ sự kết hợp các công cụ cơ bản đó. “Tài sản cơ sở” của các chứng khoán phái sinh cũng được mở rộng từ những hàng hóa cơ bản truyền thống sang các tài sản tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu), rồi cả các khoản tín dụng, bất động sản, phí vận tải, chỉ số lạm phát, khí thải, thời tiết…, hay nói cách khác là bất kỳ thứ gì thị trường có nhu cầu.

Giờ đây, các thị trường chứng khoán phái sinh đã hiện diện ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ các thị trường tài chính đã phát triển đạt đến trình độ cao đến các thị trường mới nổi. Dù là trên các thị trường có tổ chức hay thị trường phi tổ chức, các giao dịch chứng khoán phái sinh đều diễn ra hết sức sôi động, và đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng xét về giá trị danh nghĩa. Với chức năng quan trọng là cung cấp một công cụ giúp phòng ngừa và quản lý rủi ro hiệu quả, cũng như góp phần vào quá trình xác lập giá trên thị trường (do tính tương tác giữa chứng khoán phái sinh và tài sản cơ sở), chứng khoán phái sinh thu hút sự quan tâm không chỉ của nhiều tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế mà của cả các cơ quan quản lý trong nỗ lực không ngừng hoàn thiện và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động thị trường tài chính.

Trong cuốn tài liệu này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu hai công cụ phái sinh: hợp đồng tương lai và quyền chọn. Tuy nhiên, cũng không thể không nhắc đến một công cụ có thể coi là ra đời đầu tiên trên thị trường, đó là hợp đồng kỳ hạn. Về bản chất, hợp đồng kỳ hạn rất giống với hợp đồng tương lai mà chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn trong phần tiếp theo. Điểm khác biệt quan trọng nhất giữa hai công cụ này là hợp đồng tương lai được giao dịch trên thị trường có tổ chức, hay là tại sở giao dịch, trong khi hợp đồng kỳ hạn là công cụ trên thị trường phi tập trung (over-the-counter).

Mỗi loại chứng khoán phái sinh có những ưu và nhược điểm riêng, phù hợp với những mục tiêu cũng như chiến lược khác nhau của người sử dụng. Nhưng tựu chung, việc sử dụng những công cụ này đều đỏi hỏi người đầu tư phải có những hiểu biết nhất định về các khía cạnh liên quan. Có như vậy, người sử dụng chứng khoán phái sinh mới khai thác được những tác dụng có lợi của chúng, đồng thời vẫn chủ động trước những rủi ro có thể xảy ra.


I - Hợp đồng tương lai

1. Hợp đồng tương lai là gì?

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá được xác định trước.

Trước hết, phải khẳng định rằng hợp đồng tương lai là một công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường có tổ chức, cụ thể là trên sở giao dịch. Về bản chất, theo cách hiểu đơn giản nhất, hợp đồng tương lai là một thỏa thuận có ý nghĩa ràng buộc về mặt pháp lý trong đó người mua và người bán đồng ý tham gia vào một giao dịch (mua/ bán) sẽ diễn ra tại một thời điểm nhất định trong tương lai. Khi cùng bước vào một thỏa thuận như vậy, cả hai bên – bên mua và bên bán – trong giao dịch đều biết được trước một cách rõ ràng:

- Loại hàng hóa (tài sản) mà mình sẽ mua/ bán là gì;

- Khối lượng hàng hóa mà bên bán sẽ chuyển giao và bên mua sẽ được nhận là bao nhiêu;

- Thời điểm giao dịch sẽ diễn ra, hay nói cách khác là thời điểm bên mua được nhận hàng và bên bán sẽ được nhận tiền;

- Giao dịch đó sẽ được thanh toán theo mức giá nào.

Ví dụ: (i) Ngày 14/1/2011, ông A mua 1 hợp đồng tương lai đối với vàng đáo hạn tháng 8/2011, giao dịch ở mức 380,7 USD/ounce[1]. Đến tháng 8/2011[2], ông A sẽ được mua 100[3] ounce vàng với giá 1380,7 USD/ounce.

(ii) Ngày 14/1/2011, ông B bán 1 hợp đồng tương lai cổ phiếu Air France – KLM đáo hạn tháng 6/2011, giá 15 EUR/cổ phiếu[4]. Đến tháng 6/2011, ông B sẽ được bán 100[5] cổ phiếu Air France – KLM với giá 15 EUR/cổ phiếu.
1.1. Tính chuẩn hóa

Với hợp đồng tương lai, giao dịch mua/bán hàng hóa sẽ diễn ra căn cứ theo những điều khoản được chuẩn hóa, thể hiện ở các chi tiết cụ thể của một hợp đồng, bao gồm từ số lượng và chất lượng hàng hóa cho đến thời điểm và cách thức giao nhận cũng như thanh toán giữa hai bên.

Trước hết, hàng hóa mua bán (còn gọi là tài sản cơ sở, hay tài sản gốc) là yếu tố luôn được xác định rõ. Bạn có thể mua hoặc bán hợp đồng tương lai đối với nhiều loại hàng hóa cơ bản khác nhau, từ kim loại quý (vàng, bạc, bạch kim,…), kim loại công nghiệp (nhôm, nikel, kẽm, đồng,…), đến nông sản (ngô, gạo, cà phê, gia súc, thịt lợn, sữa….) và cả những công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và nhiều đồng tiền trên thế giới (đồng USD, EUR, GBP, JPY, AUD,…). Không chỉ dừng lại ở loại hàng hóa, hợp đồng tương lai còn được chuẩn hóa đến cả chất lượng và số lượng hàng hóa mua/ bán theo mỗi hợp đồng.

Ví dụ: Một trường hợp điển hình là hợp đồng tương lai đối với bột đậu nành giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa Chicago (CME). Hợp đồng này yêu cầu phải giao loại bột đậu nành đáp ứng được các điều kiện như sau: bột đậu nành được sản xuất bằng cách xử lý đậu tương nghiền mịn và làm giảm hàm lượng dầu của sản phẩm đã qua xử lý bằng cách sử dụng dung môi hexane hoặc hydrocarbon đồng đẳng. Hàm lượng protein tối thiểu 48%, chất béo tối thiểu 0,5%, chất xơ tối đa 3,5% và độ ẩm tối đa 12% (khi được vận chuyển bởi nhà chế biến). Bột đậu nành có thể chứa chất không bổ dưỡng, chất không độc hại nhằm làm giảm sự vón cục và tăng cường độ tơi với một lượng không quá mức cần thiết để tạo ra tác dụng mong muốn, nhưng trong mọi trường hợp đều không được quá 0,5%. Tên của hoạt chất sử dụng trong quá trình xử lý phải được nêu rõ như một chất phụ gia. Các biện pháp kiểm định phải được hai tổ chức là Association of Official Analytical Chemists vàAmerican Oil Chemists Society chấp thuận.

Mỗi hợp đồng tương lai thường quy định rõ lượng hàng hóa mà các bên tham gia trao đổi, mua bán với nhau trong giao dịch sẽ diễn ra trong tương lai thông qua khái niệm “quy mô hợp đồng”. Bảng sau đây mô tả quy định về quy mô hợp đồng áp dụng cho một số hợp đồng tương lai được giao dịch tại Sở Giao dịch Hàng hóa Chicago (CME), Mỹ:



Hợp đồng tương lai

Quy mô hợp đồng


HĐTL đối với vàng

100 ounces[6] chuẩn


HĐTL đối với ngô

5000 bushels[7]


HĐTL đối với bột đậu nành

100 short tons[8]


HĐTL EUR/USD

125.000 EUR


HĐTL JPY/USD

12.500.000 JPY


HĐTL dầu thô ngọt nhẹ

1000 barrels[9]


HĐTL đối với đồng

25.000 pounds[10]


Cuối cùng, cách thức, thời gian thanh toán giao dịch cũng như địa điểm nơi diễn ra hoạt động giao nhận hàng hóa theo hợp đồng cũng là những yếu tố được xác định rõ ràng ngay từ đầu trong một giao dịch hợp đồng tương lai.

Sự chuẩn hóa này của các hợp đồng tương lai đem lại những lợi ích không thể phủ nhận được. Đây cũng là điểm quan trọng nhất phân biệt hợp đồng tương lai với các hợp đồng kỳ hạn[11] – loại công cụ giao dịch trên thị trường phi tập trung. Với hợp đồng kỳ hạn, các điều khoản giao dịch (loại hàng hóa, số lượng hàng hóa mua/bán, cách thức thanh toán và chuyển giao) được thiết kế trên cơ sở thỏa thuận sao cho phù hợp nhất với yêu cầu của các bên. Điều này cũng có nghĩa là mỗi hợp đồng kỳ hạn trên thị trường đều có những nội dung cụ thể khác nhau vì được thiết kế riêng cho từng khách hàng. Hệ quả là tính thanh khoản của công cụ này thấp do việc mua đi bán lại trên thị trường không phải lúc nào cũng thực hiện được một cách thuận tiện và nhanh chóng. Sự ra đời của hợp đồng tương lai có thể coi là đã khắc phục được nhược điểm này.

Tính chất chuẩn hóa của hợp đồng tương lai cho phép những người sử dụng cuối cùng của công cụ này có thể xác lập hoặc kết thúc một vị thế (đối với hợp đồng tương lai) hết sức dễ dàng. Tính thanh khoản của thị trường hợp đồng tương lai nhờ đó cũng tăng lên rất nhiều do mỗi cá nhân tham gia thị trường này đều đã biết rõ công cụ mình sẽ mua/bán là gì và yếu tố duy nhất còn lại họ phải quan tâm chính là giá (hợp đồng tương lai).
1.2. Giá hợp đồng tương lai

Giá hợp đồng tương lai, hay là giá mua - bán hàng hóa trong giao dịch tương lai, được thống nhất từ đầu giữa hai bên tham gia hợp đồng[12] và được giữ cố định (đối với các bên) trong suốt thời gian hợp đồng tương lai đó tồn tại. Đối với bên mua hợp đồng tương lai, đây là mức giá mà người mua cam kết sẽ thanh toán để mua hàng hóa cơ sở khi hợp đồng đáo hạn. Ngược lại, đối với bên bán của hợp đồng, đó lại là mức giá mà người bán cam kết sẽ giao hàng hóa cơ sở tại thời điểm kết thúc hợp đồng.

Ví dụ: Nếu A mua một hợp đồng tương lai đối với vàng giao tháng 12 với giá 1350 USD/ounce (hợp đồng giao dịch trên CME), A sẽ phải mua 100 ounce vàng vào tháng 12 khi hợp đồng đến hạn. 1350 USD/ounce là mức giá sẽ được áp dụng cho giao dịch mua/bán vàng giữa A và đối tác theo hợp đồng vào tháng 12, bất kể giá vàng trên thị trường biến đổi như thế nào, cao hơn hay thấp hơn mức giá đó.

Đến đây, cần nói rõ thêm rằng hai bên tham gia một giao dịch hợp đồng tương lai, tức là bên mua và bên bán, đều có nghĩa vụ phải thực hiện cam kết mua/bán tài sản của mình tại thời điểm hợp đồng đáo hạn. Giao dịch mua - bán tài sản cơ sở sẽ diễn ra trong tương lai bất kể việc thực hiện giao dịch đó sẽ đem lại lợi ích hay gây thiệt hại cho các bên của hợp đồng.

Quay trở lại với ví dụ nêu trên, giả sử giá vàng tại thời điểm đáo hạn hợp đồng tương lai (tháng 12) là 1360 USD/ounce, A sẽ có lợi do được mua 100 ounce vàng với giá cố định ở mức thấp hơn là 1350 USD/ounce, rồi có thể bán lại ngay sau đó theo giá thị trường để hưởng khoản chênh lệch 10 USD/ounce (= 1360 – 1350). Về phía người bán, việc giao hàng theo hợp đồng là một nghĩa vụ không thể từ chối mặc dù làm như vậy người bán bị thiệt hại 10 USD/ounce (do số tiền anh ta được thanh toán theo hợp đồng tương lai thấp hơn so với mức giá hiện hành trên thị trường khi đó). Trong trường hợp ngược lại, giả sử giá vàng tháng 12 trên thị trường giao ngay chỉ là $1335/ounce, bên mua hợp đồng tương lai vẫn phải chấp nhận bị thiệt hại do mất cơ hội mua vàng ở mức giá này và phải thanh toán cho bên bán theo giá cao hơn (đã ghi nhận trong hợp đồng). Lúc này, lợi ích lại thuộc về bên giữ vị thế bán của hợp đồng tương lai do anh ta đã cố định được giá bán vàng là 1350 USD/ounce bất chấp việc giá vàng đã giảm đi trên thị trường.
1.3. Vị thế hợp đồng tương lai

Khi nhà đầu tư mua hoặc bán hợp đồng tương lai đối với một loại tài sản cơ sở nhất định, ta nói rằng nhà đầu tư đó giữ một “vị thế” trên thị trường hợp đồng tương lai. Như vậy, có hai loại vị thế hợp đồng tương lai mà nhà đầu tư có thể nắm giữ - vị thế mua và vị thế bán. Về nguyên tắc, hành động cùa người sử dụng hợp đồng tương lai tại mỗi thời điểm, mở vị thế (hiện tại) và đáo hạn hợp đồng (trong tương lai) có thể tóm tắt qua bảng sau:

Vị thế
Thời điểm
Mở vị thế
Đáo hạn hợp đồng
Mua
Mua hợp đồng tương lai
Mua tài sản cơ sở
(Nhận tài sản, thanh toán tiền theo giá hợp đồng tương lai)
Bán
Bán hợp đồng tương lai
Bán tài sản cơ sở
(Giao tài sản, được thanh toán tiền theo giá hợp đồng tương lai)