2. Các loại hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai thường được phân loại căn cứ vào tài sản làm cơ sở cho hợp đồng. Vì vậy, có thể nêu ra 5 nhóm hợp đồng tương lai thường thấy trên các thị trường chứng khoán phái sinh, bao gồm:



Hợp đồng tương lai hàng hóa cơ bản: Hàng hóa cơ bản ở đây bao gồm các loại nông sản, kim loại và năng lượng. Hợp đồng tương lai nông sản có thể được lập cho các loại ngũ cốc (ngô, gạo, lúa mạch, kiều mạch), bột và dầu (đậu tương, bột đậu tương và dầu đậu nành, hạt hướng dương, dầu hướng dương), gia súc và thịt gia súc, gỗ, bông, cà phê, ca cao… Nhóm các sản phẩm kim loại gồm vàng, bạc, nhôm, platinum, palladium, chì, nickel, thiếc, kẽm và đồng. Nhóm năng lượng chủ yếu gồm dầu đốt nóng (heating oil), dầu thô, khí thiên nhiên, xăng không chì, than, propane và điện. Thông thường, các hợp đồng tương lai đối với hàng hóa cơ bản đều được áp dụng phương thức thanh toán vật chất.

Hợp đồng tương lai tiền tệ: các đồng tiền làm cơ sở cho loại hợp đồng tương lai này rất đa dạng: đồng bảng Anh, đồng yên Nhật, đồng đôla Canada, đồng real Brazil, đồng đôla Úc, đồng franc Thụy Sỹ, đồng Euro…

Hợp đồng tương lai lãi suất: đây là loại hợp đồng tương lai được xây dựng dựa trên những công cụ đem lại thu nhập dưới dạng tiền lãi. Các công cụ cơ sở thường thấy bao gồm tín phiếu và trái phiếu chính phủ, các khoản tiền gửi bằng đồng đôla Châu Âu.

Hợp đồng tương lai chỉ số: Hầu hết các hợp đồng tương lai chỉ số được xây dựng trên các chỉ số cổ phiếu. Các chỉ số cổ phiếu được chọn có thể là chỉ số toàn thị trường hay chỉ số ngành, tuy nhiên tính thanh khoản của các hợp đồng tương lai đối với mỗi loại chỉ số này là khác nhau. Các hợp đồng tương lai chỉ số bắt buộc phải được thanh toán bù trừ bằng tiền chứ không thể thực hiện thanh toán vật chất.

Hợp đồng tương lai cổ phiếu: Đây là nhóm hợp đồng tương lai xây dựng cho các cổ phiếu riêng lẻ - những cổ phiếu được niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán nhất định.
3. Giao dịch hợp đồng tương lai
3.1. Các đối tượng tham gia thị trường

Giao dịch hợp đồng tương lai diễn ra trên các sàn giao dịch, với sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau, trong đó về cơ bản bao gồm sở giao dịch, đối tác bù trừ trung tâm, các nhà môi giới và người đầu tư (hay là người sử dụng cuối cùng các hợp đồng tương lai).

Sở giao dịch quản lý thị trường đấu giá tập trung, nơi các hợp đồng tương lai được niêm yết và mua/bán giữa các đối tượng tham gia thị trường. Mặc dù không trực tiếp tham gia vào các giao dịch hợp đồng tương lai, sở giao dịch đóng vai trò quan trọng trong việc:

(i) Cung cấp và đảm bảo duy trì sự hoạt động liên tục của hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các giao dịch (và được thu phí từ các thành viên thị trường cho việc thực hiện chức năng này);

(ii) Nghiên cứu và đưa ra thị trường các sản phẩm hợp đồng tương lai mới;

(iii) Ban hành, giám sát và cưỡng chế thực thi các quy định và quy tắc nhằm đảm bảo thị trường hoạt động ổn định, minh bạch, công bằng và có trật tự (quy định chuẩn hóa cho sản phẩm giao dịch, quy định chống thao túng thị trường, thực thi những cơ chế nhằm giảm rủi ro cho người tham gia…);

(iv) Cung cấp thông tin giao dịch trên thị trường.

Đối tác bù trừ trung tâm là một bộ phận quan trọng không thể thiếu vắng trên thị trường hợp đồng tương lai. Nó có thể được hình thành một cách độc lập, tách rời với sở giao dịch và cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ cho một hay nhiều sở giao dịch, hoặc được tổ chức như một bộ phận của sở giao dịch. Nhiệm vụ của đối tác bù trừ trung tâm là đảm bảo cho các giao dịch hợp đồng tương lai luôn diễn ra suôn sẻ, trong đó mỗi bên tham gia đều thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng. Để thực hiện được chức năng này, đối tác bù trừ trung tâm đóng vai trò người bán đối với bên mua và người mua đối với bên bán trong các giao dịch hợp đồng tương lai. Nói cách khác, mỗi bên giao dịch hợp đồng tương lai đều chỉ có nghĩa vụ với đối tượng duy nhất là đối tác bù trừ trung tâm và đối tác bù trừ trung tâm cũng là đối tượng duy nhất có nghĩa vụ và phải thực hiện nghĩa vụ với các nhà đầu tư trên thị trường hợp đồng tương lai. Mối quan hệ này được mô tả qua lược đồ sau đây:
 Điều này hoàn toàn trái ngược với thị trường giao dịch hợp đồng kỳ hạn, nơi người mua và người bán trực tiếp gặp gỡ và giao dịch với nhau không thông qua một tổ chức trung gian như trung tâm thanh toán bù trừ.


Như vậy, có thể thấy rằng đối tác bù trừ trung tâm không giữ các vị thế hợp đồng tương lai một cách chủ động song vẫn đặt mình là đối tác với mỗi bên tham gia trong mọi giao dịch. Ở đây, độ tin cậy của đối tác bù trừ trung tâm có ý nghĩa rất quan trọng và được đảm bảo một phần bởi chính bản thân tổ chức này với tư cách là một định chế tài chính lớn và có lượng vốn hoạt động cao. Ngoài ra, những biện pháp bảo đảm khác có thể được áp dụng và một trong số đó, cơ chế ký quỹ và điều chỉnh theo giá thị trường hàng ngày đối với các hợp đồng tương lai, sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau.

Nhà môi giới đóng vai trò cầu nối cho người mua và người bán để các giao dịch hợp đồng tương lai có thể diễn ra trên thị trường. Họ có thể chỉ đơn giản là những người thực hiện các lệnh mua, lệnh bán hợp đồng tương lai cho khách hàng, hoặc cũng tham gia giao dịch cho chính mình (hay cho công ty). Người môi giới phải được trang bị những kiến thức cơ bản về thị trường và khách hàng, có những kỹ năng giao dịch nhất định và thường phải đáp ứng yêu cầu của Sở giao dịch hay cơ quan quản lý thị trường nói chung về tiêu chuẩn hành nghề cũng như các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.

Người sử dụng hợp đồng tương lai có thể là các cá nhân hoặc tổ chức. Họ là đối tượng mua hoặc bán hợp đồng tương lai phục vụ các mục đích đầu cơ hay phòng ngừa rủi ro của mình. Những tổ chức và cá nhân này không thể trực tiếp có mặt tại sàn giao dịch để tiến hành hoạt động mua, bán hợp đồng tương lai mà phải đặt lệnh thông qua nhà môi giới. Ngoài ra, để có thể tham gia thị trường, họ cũng phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định do sở giao dịch đặt ra.
3.2. Ký quỹ và cơ chế điều chỉnh theo giá thị trường

Ký quỹ và tài khoản ký quỹ

Trước khi giao dịch hợp đồng tương lai, cả bên mua và bên bán hợp đồng đều phải mở một tài khoản ký quỹ tại công ty môi giới. Số tiền ký quỹ trên tài khoản được coi như một khoản đảm bảo về tài chính cho việc thực hiện nghĩa vụ theo cam kết của mỗi bên (cụ thể là nghĩa vụ giao tài sản đối với bên bán hợp đồng tương lai và nghĩa vụ trả tiền đối với bên mua hợp đồng tương lai). Về phần mình, công ty môi giới cũng có tài khoản ký quỹ mở tại đối tác bù trừ trung tâm (nếu bản thân họ là một thành viên của Trung tâm này) hoặc tại công ty thành viên của trung tâm.

Sở giao dịch hợp đồng tương lai chịu trách nhiệm đưa ra các quy định cụ thể về ký quỹ. Thông thường, có hai loại ký quỹ được yêu cầu đối với nhà đầu tư, bao gồm ký quỹ ban đầu và ký quỹ duy trì. Ký quỹ ban đầu là số tiền tối thiểu phải có trên tài khoản của nhà đầu tư trước khi họ được phép đặt lệnh mua/ bán hợp đồng tương lai. Mỗi loại hợp đồng tương lai (đối với một tài sản cơ sở cụ thể) thường được áp dụng một mức ký quỹ khác nhau. Ở nhiều thị trường giao dịch hợp đồng tương lai hiện nay, số tiền ký quỹ ban đầu thường dao động ở mức 5% đến 10% giá trị hợp đồng tương lai. Tuy nhiên, số tiền này không giữ cố định trong suốt thời gian hợp đồng tương lai tồn tại mà sẽ biến động, tăng lên hoặc giảm đi, cùng với quá trình điều chỉnh theo giá thị trường. Để chắc chắn rằng trên tài khoản ký quỹ của những người giao dịch hợp đồng tương lai luôn có một khoản tiền nhất định nào đó nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của họ, sở giao dịch đưa ra quy định về mức ký quỹ duy trì. Nếu tiền trên tài khoản ký quỹ chạm đến mức này hoặc thấp hơn, công ty môi giới sẽ gửi thông báo đến nhà đầu tư yêu cầu bổ sung thêm tiền ký quỹ. Số tiền bổ sung thêm phải đủ để số dư tài khoản quay trở về mức ký quỹ ban đầu.

Điều chỉnh theo giá thị trường

Vậy quá trình điều chỉnh hợp đồng tương lai theo giá thị trường được thực hiện như thế nào? Về thực chất, đây chính là việc thanh toán hợp đồng tương lai hàng ngày và những khoản lãi/lỗ phát sinh từ vị thế hợp đồng tương lai cũng được hiện thực hóa cho các bên tham gia giao dịch theo từng ngày. Cần phải nhấn mạnh rằng, giá hợp đồng tương lai (đối với một tài sản cơ sở cụ thể và có thời gian đáo hạn đã biết) thay đổi gần như liên tục trên thị trường, và ứng với mỗi sự thay đổi đó một khoản lãi hoặc lỗ sẽ xuất hiện và được ghi nhận tương ứng cho các bên tham gia giao dịch - bên mua và bên bán hợp đồng tương lai. Lãi sẽ làm số tiền trên tài khoản ký quỹ tăng thêm trong khi lỗ sẽ làm số tiền trên tài khoản này giảm xuống. Chúng ta sẽ tìm hiểu cơ chế này qua ví dụ sau đây.

Ví dụ: Vào ngày 1/10, giá hợp đồng tương lai đối với cổ phiếu XYZ đáo hạn tháng 12 là 30 USD/cổ phiếu, quy mô hợp đồng là 100 cổ phiếu. Ký quỹ ban đầu đối với hợp đồng tương lai này giả sử là 20% giá trị hợp đồng. Như vậy, nếu một nhà đầu tư muốn mua hoặc bán một hợp đồng tương lai cổ phiếu XYZ vào ngày hôm đó, số tiền cần phải có trên tài khoản ký quỹ trước khi nhà đầu tư có thể mở vị thế là:

30x100x20% = 600 USD

Nếu ký quỹ duy trì được yêu cầu ở mức 70% khoản ký quỹ ban đầu, số tiền tối thiểu phải có trên tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư tại mỗi thời điểm là 420 USD (= 600x70%).

Hợp đồng tương lai được điều chỉnh theo giá thị trường ngay khi ngày giao dịch đầu tiên, ngày mở vị thế, kết thúc. Quá trình này sẽ diễn ra như sau:

Ngày

Giá HĐTL
Vị thế mua
Vị thế bán

Lãi/lỗ
Số dư tài khoản
ký quỹ

Lãi/lỗ
Số dư tài khoản ký quỹ
1/10
30

600

600
Cuối ngày 1/10
28
(28 - 30) x100 = -200 USD (lỗ)
600–200= 400
(400 < 420)
=> yêu cầu ký quỹ bổ sung (200=600–400)
(30 - 28)x100 = +200 USD (lãi)
600+200= 800
2/10
29
(29 - 28)x100 = +100 USD (lãi)
600+100= 700
(28 - 29)x100 = -100 USD (lỗ)
800–100= 700
3/10
32
(32 - 29)x100 = +300 USD (lãi)
700+300=1000
(29 - 32)x100 = -300 USD (lỗ)
700–300= 400
(400 < 420)
 => yêu cầu ký quỹ bổ sung (200=600 – 400)


Cứ như vậy, quy trình điều chỉnh theo giá thị trường đối với hợp đồng tương lai được thực hiện hàng ngày kể từ sau khi nhà đầu tư mở vị thế cho đến thời điểm vị thế đó được đóng lại (theo một trong các cách mà ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở phần tiếp theo). Có thể thấy rằng, với cơ chế này, các khoản lỗ nếu phát sinh đều được nhà đầu tư trang trải gần như ngay lập tức bằng tiền của mình (từ tài khoản ký quỹ đã có hoặc từ khoản tiền nộp thêm khi một yêu cầu ký quỹ bổ sung được nhà môi giới đưa ra). Điều này giúp hạn chế rủi ro mất khả năng thanh toán của nhà đầu tư khi khoản lỗ là quá lớn.
3.3. Đóng vị thế hợp đồng tương lai

Đối với nhà đầu tư trên thị trường hợp đồng tương lai, vị thế của họ sẽ tự động đóng lại khi đến thời điểm đáo hạn và các bên hoàn tất việc thanh toán hợp đồng. Về cơ bản, hai hình thức thanh toán hợp đồng tương lai có thể được áp dụng – thanh toán vật chất hoặc thanh toán tiền. Sở giao dịch sẽ quy định cách thức thanh toán thích hợp cho từng loại hợp đồng tương lai.

Theo phương thức thanh toán vật chất, tài sản cơ sở sẽ được bên bán hợp đồng tương lai giao cho bên mua, còn bên mua của hợp đồng sẽ phải thanh toán tiền (theo giá hợp đồng tương lai) cùng với việc nhận hàng từ bên bán. Hàng được giao phải đáp ứng những yêu cầu đã đặt ra của sở giao dịch (về số lượng và chất lượng, địa điểm và thời điểm chuyển giao). Thông thường, thanh toán vật chất có thể được áp dụng cho các hợp đồng tương lai đối với hàng hóa cơ bản (nông sản, kim loại…), hay cũng áp dụng cho hợp đồng tương lai tiền tệ, hợp đồng tương lai lãi suất (mà công cụ cơ sở là trái phiếu) hoặc hợp đồng tương lai cổ phiếu.

Đối với phương thức thanh toán tiền, thay vì chuyển giao tài sản cơ sở dưới dạng vật chất khi hợp đồng tương lai đáo hạn, các bên tham gia giao dịch chỉ cần chuyển tiền để thanh toán các khoản lãi/lỗ phát sinh. Đây là hình thức áp dụng khá phổ biến cho các hợp đồng tương lai tài chính (mà điển hình trong số đó là hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu). Về nguyên tắc, việc xác định số tiền mà mỗi bên trong giao dịch hợp đồng tương lai phải trả (hoặc được hưởng) tại thời điểm đáo hạn được căn cứ vào khoản lỗ (hoặc lãi) phát sinh đối với bên đó. Với bên mua, đó là chênh lệch giữa số tiền họ phải trả để được nhận hàng (nếu hợp đồng tương lai được thanh toán vật chất) và số tiền thu được nếu họ bán số hàng vừa được giao ngay lập tức trên thị trường. Với bên bán, đó là chênh lệch giữa số tiền họ nhận được khi giao hàng theo hợp đồng và số tiền có thể họ phải chi ra mua tài sản cơ sở trên thị trường giao ngay để giao cho bên mua khi đó.

Ví dụ: Để phân biệt rõ hơn sự khác biệt giữa hai hình thức thanh toán nói trên, chúng ta cùng xem xét ví dụ đơn giản sau đây. Công ty A mua một hợp đồng tương lai cà phê (quy mô hợp đồng là 37.500 pounds[1]) giao tháng Ba với giá 2,36 USD/pounds. Công ty B cũng tham gia một giao dịch hợp đồng tương lai tương tự nhưng ở vị thế người bán. Nếu áp dụng phương thức thanh toán vật chất, tại thời điểm đáo hạn hợp đồng, công ty A sẽ phải trả số tiền 88.500 USD (= 37.500x2,36) để đổi lại việc nhận 37.500 pounds cà phê từ bên bán. Ngược lại, công ty B phải giao lượng cà phê này cho bên mua hợp đồng tương lai và được thanh toán số tiền nói trên.

Tuy nhiên, nếu hợp đồng được thanh toán theo cách thứ hai – thanh toán tiền, các bên giao dịch không cần phải giao/ nhận hàng hóa thực (là cà phê) mà chỉ cần thanh toán với nhau giá trị chênh lệch gắn liền với vị thế giao ngay. Chênh lệch này được xác định dựa vào giá giao ngay của tài sản cơ sở trên thị trường vào ngày thanh toán hợp đồng và giá hợp đồng tương lai mà hai bên mua/ bán đã thống nhất từ đầu. Trong ví dụ trên, nếu giá cà phê giao ngay tại thời điểm hợp đồng tương lai đáo hạn là 2,38 USD/pounds, bên bán sẽ phải trả cho bên mua số tiền 750 USD (= (2,38 – 2,36)x37.500). Ngược lại, nếu giá cà phê giao ngay khi đó là 2,33 USD/ pounds, bên mua mới là người phải trả tiền cho bên bán (-1.125 USD (= (2,33 – 2,36)x37.500)..

Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn có thể chấm dứt giao dịch hợp đồng tương lai hiện tại bằng cách bù trừ vị thế. Hành động bù trừ vị thế được cụ thể hóa bằng việc nhà đầu tư nắm giữ một vị thế hợp đồng tương lai có giá trị tương đương nhưng hoàn toàn trái ngược với vị thế ban đầu. Mục tiêu của hành động này là trung hòa vị thế hợp đồng tương lai của nhà đầu tư, khiến cho vị thế ròng của nhà đầu tư bằng không và khi đó họ không còn nghĩa vụ phải thực hiện trong giao dịch diễn ra tại thời điểm đáo hạn hợp đồng tương lai liên quan nữa.

Ví dụ: Ngày 1/4, nhà đầu tư A mua một hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 đáo hạn vào tháng Sáu (hợp đồng tương lai giao dịch tại Sở Giao dịch hàng hóa Chicago). Ngày 1/5, A quyết định đóng vị thế và đưa ra lệnh bù trừ vị thế. Nhà môi giới của A sẽ thực hiện lệnh bù trừ vị thế bằng việc bán một hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 đáo hạn vào tháng Sáu trên thị trường. Sau thời điểm này, nhà đầu tư A đồng thời giữ một vị thế mua và một vị thế bán đối với hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 đáo hạn tháng Sáu. Trong trường hợp này, đối tác bù trừ trung tâm sẽ ghi nhận trạng thái vị thế ròng bằng 0 của nhà đầu tư A. Nhà đầu tư A được coi là đã kết thúc vị thế hợp đồng tương lai của mình và lãi/lỗ đối với nhà đầu tư này được xác định dựa vào chênh lệch giữa giá hợp đồng tương lai tại thời điểm thực hiện lệnh bù trừ vị thế với giá hợp đồng tương lai anh ta đã chấp nhận trong giao dịch ban đầu.

Nguyên tắc tương tự cũng được áp dụng trong trường hợp bù trừ một vị thế bán hợp đồng tương lai. Giả sử, ngày 1/4, nhà đầu tư B bán một hợp đồng tương lai lúa mì giao tháng Bảy (hợp đồng tương lai giao dịch tại Sở Giao dịch hàng hóa Chicago). Ngày 20/5, nhà đầu tư này quyết định kết thúc vị thế. Anh ta sẽ bù trừ vị thế bằng cách mua một hợp đồng tương lai lúa mì giao tháng Bảy. Khi đó, nghĩa vụ gắn liền với vị thế bán hợp đồng tương lai ban đầu (giao hàng và nhận tiền) được trung hòa bởi nghĩa vụ phát sinh với vị thế mua hợp đồng tương lai vừa được hình thành (nhận hàng và trả tiền). Lúc này, vị thế ròng của nhà đầu tư B bằng không (0) và chênh lệch giá hợp đồng tương lai tại hai thời điểm trên quyết định tổng lãi/lỗ đối với nhà đầu tư này.

Điều quan trọng cần chú ý khi thực hiện bù trừ vị thế là trong giao dịch đảo ngược nhà đầu tư phải bán (hoặc mua) đúng hợp đồng tương lai mà mình đã mua (hoặc bán) ban đầu. Nói cách khác, hai giao dịch (mở vị thế và bù trừ vị thế) phải hoàn toàn trùng khớp nhau về loại tài sản cơ sở, số lượng hợp đồng tương lai và thời gian đáo hạn hợp đồng. Nếu yêu cầu này không được thỏa mãn, một nghĩa vụ mới sẽ phát sinh, hay là một vị thế hợp đồng tương lai mới sẽ hình thành với nhà đầu tư trong khi vị thế cũ vẫn chưa được chấm dứt.

Ngoài ra, một điểm cần chú ý nữa là vị thế của nhà đầu tư cũng có thể bị chính công ty môi giới chủ động đóng lại trước thời điểm hợp đồng tương lai đáo hạn. Điều này xảy ra khi nhà đầu tư không thực hiện được một cách kịp thời yêu cầu ký quỹ bổ sung mà công ty môi giới đã đưa ra (do một khoản thua lỗ phát sinh trong ngày giao dịch trước đó và số dư trên tài khoản ký quỹ đã xuống thấp hơn mức ký quỹ duy trì).