Huy động vốn tăng trưởng chậm, dẫn đến tỷ lệ tín dụng trên vốn huy động tăng nhẹ, thanh khoản hệ thống ngân hàng có dấu hiệu khó khăn cục bộ, lãi suất huy động có sức ép tăng cao hơn mức tăng của năm ngoái. Đó là những biến động của thị trường ngân hàng trong bốn tháng đầu năm 2017.

Đánh giá về thị trường tài chính – ngân hàng bốn tháng đầu năm, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (NFSC) nhận định, trong năm nay, lãi suất huy động có sức ép tăng cao hơn mức tăng của năm 2016 nên sẽ tác động đến mục tiêu “kìm” lạm phát ở mức trung bình 4%.
Huy động vốn tăng trưởng chậm
Theo NFSC, huy động vốn bốn tháng đầu năm 2017 đạt 3,7%, tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2016 đạt 4,6%). Tăng trưởng huy động chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng dẫn đến tỷ lệ tín dụng trên vốn huy động tăng nhẹ từ 86,3% lên 87%.
Do đó, thanh khoản của hệ thống ngân hàng có dấu hiệu khó khăn cục bộ. Lãi suất liên ngân hàng luôn duy trì ở mức khá cao, từ 4,99% đến 5,0%. Tính đến ngày 24/4, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bơm ròng khoảng 27.000 tỷ đồng.
NFSC cho rằng nguyên nhân biến động trên thị trường tiền tệ trong những tháng đầu năm 2017 chủ yếu do nhu cầu tín dụng tăng cao ngay từ đầu năm.
Thông tin từ NHNN cho biết, tính đến hết tháng 4/2017, tín dụng đã tăng khoảng 5,2%, cao nhất trong 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng của huy động đạt khoảng 3,7%.
Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng 4,9%. Nhiều NHTM cổ phần đã đẩy mạnh tín dụng khá cao ngay trong quý I như: Lienvietpostbank 11%, NHTM Kiên Long 10,3%, SCB 9%, ACB 8,3%, Vietcombank 8,3%.
Đặc biệt, tín dụng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng tín dụng ngắn hạn, giảm tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn. Ước tính quý I, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong tổng tín dụng tăng từ 44,9% lên 45,5%. Riêng tháng Tư, tín dụng dài hạn ước tăng 4,3%.
Vì vậy, các tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động cơ cấu lại kỳ hạn cho vay và huy động để giảm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Cơ cấu tín dụng theo loại tiền được duy trì ổn định, trong đó tín dụng bằng đồng Việt Nam chiếm 91,7%.
Xu hướng mất giá mạnh của đồng Nhân dân tệ sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam do thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đang có xu hướng tăng, từ mức 23,7 tỷ USD trong năm 2013 lên mức 28 tỷ USD trong năm 2016.
Mặt bằng lãi suất chịu áp lực tăng
Quý I/2017, lãi suất trên thị trường 1 có biến động tăng từ 0,1 – 0,5% tại một số NHTM. Song sang tháng 4/2017, thị trường chưa ghi nhận thêm mức điều chỉnh đáng kể nào. Tại thời điểm cuối tháng Tư, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn trên 12 tháng dao động quanh mức 7%.
FNSC nhận định, việc ổn định mặt bằng lãi suất những tháng còn lại của năm 2017 sẽ chịu nhiều thách thức hơn năm 2016 bởi ba nguyên nhân. Thứ nhất, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) dự kiến tăng lãi suất ít nhất ba lần trong năm nay, sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá. Thứ hai, nợ xấu chưa được xử lý triệt để tiếp tục là rào cản lớn cho việc hạ mặt bằng lãi suất. Thứ ba, các TCTD tiếp tục phải cân đối nguồn vốn để đảm bảo theo lộ trình giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn xuống còn 40% kể từ ngày 1/1/2018.
Để ổn định mặt bằng lãi suất cho vay ở khoảng 0,1 điểm phần trăm, FNSC cho rằng, NHNN cần đẩy mạnh việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống TCTD.
Thêm vào đó, cần giữ chênh lệch lãi suất đô la Mỹ và đồng Việt Nam ở mức hợp lý, với kỳ vọng lạm phát trung bình ở mức 4%, kỳ vọng tỷ giá tăng 2 – 4%.
Hiện tại, lãi suất huy động phổ biến trên 12 tháng quanh mức 7% vẫn đảm bảo có lợi cho đồng Việt Nam. Trong khi đó, chênh lệch lãi suất cho vay đô la Mỹ và đồng Việt Nam khoảng 5,2%, lợi ích nghiêng về vay bằng VND.
NFSC dự báo trong năm 2017, tỷ giá chịu áp lực lớn nhất từ phía cầu ngoại tệ do sức ép nhập siêu gia tăng. Dự báo cán cân thương mại có thể thâm hụt ở mức tương đương 3,5% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ và yếu tố quốc tế tiếp tục hỗ trợ làm giảm áp lực lên tỷ giá. NFSC dẫn chứng, nguồn cung ngoại tệ dồi dào đến từ nguồn vốn mua bán sáp nhập và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng mạnh, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần ba tháng đầu năm đạt 7.710,1 triệu USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm 2016.
Cùng với đó, việc Fed tăng lãi suất trong ngắn hạn cũng chưa gây áp lực đối với tỷ giá do hiện nay chênh lệch giữa lãi suất đồng Việt Nam và đô la Mỹ vẫn nghiêng về việc nắm giữ tiền đồng, hiện đang ở mức 5,2%.
Về dài hạn, với lộ trình tăng lãi suất thêm nhiều lần của Fed trong các năm tiếp theo nhằm mục tiêu nâng lên mức 3% vào cuối năm 2019, tỷ giá có thể sẽ chịu áp lực lớn hơn.
Đặc biệt, xu hướng mất giá mạnh của đồng Nhân dân tệ sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam do thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đang có xu hướng tăng, từ mức 23,7 tỷ USD trong năm 2013 lên mức 28 tỷ USD trong năm 2016.
Nếu so với GDP, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc là 14%, cao hơn nhiều mức 2% thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc.

Theo thoibaokinhdoanh